Gần 80% doanh nghiệp SME chưa tiếp cận vốn vay
Báo cáo “Doanh nghiệp SME tại Việt Nam: Mức độ trưởng thành và khả năng tiếp cận tín dụng” do FiinGroup công bố tháng 8/2026 cho thấy, khoảng cách đáng kể giữa quy mô về số lượng và năng lực đóng góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).
![]() |
| Tỷ trọng số lượng và cơ cấu doanh thu của doanh nghiệp nhỏ và vừa so với doanh nghiệp lớn (tháng 7/2026). Nguồn: Fiingroup |
Quy mô lớn nhưng sức đóng góp còn khiêm tốn
Báo cáo “Doanh nghiệp SME tại Việt Nam: Mức độ trưởng thành và khả năng tiếp cận tín dụng” do FiinGroup công bố tháng 8/2026 cho thấy, khoảng cách đáng kể giữa quy mô về số lượng và năng lực đóng góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).
Theo FiinGroup, Việt Nam có khoảng 914.000 doanh nghiệp SME, bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, chiếm 94% tổng số doanh nghiệp cả nước tính đến tháng 7/2026. Tuy nhiên, khu vực này chỉ tạo ra khoảng 19% tổng doanh thu.
Trong năm 2025, khoảng 36.000 doanh nghiệp SME tham gia xuất khẩu, đóng góp 6,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; 83.000 doanh nghiệp tham gia nhập khẩu, tương ứng 9% tổng kim ngạch nhập khẩu. Khu vực SME sử dụng khoảng 6,6 triệu lao động, chiếm 38,6% tổng lao động trên cả nước.
Khả năng tiếp cận tín dụng vẫn là một trong những điểm nghẽn chính. FiinGroup ước tính có khoảng 187.000 doanh nghiệp SME đang vay vốn, tương đương 20,5% tổng số doanh nghiệp trong khu vực. Tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với mức 61,4% của doanh nghiệp lớn.
Khoảng cách còn thể hiện giữa các nhóm quy mô. Chỉ 8,8% doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận được vốn vay, trong khi tỷ lệ này ở doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa cùng đạt khoảng 30,9%.
Hạn chế về vốn, quản trị, công nghệ và thị trường khiến quá trình trưởng thành của SME diễn ra chậm. Năm 2026, gần 43.000 doanh nghiệp được ghi nhận nâng quy mô, chủ yếu nhờ nhóm siêu nhỏ chuyển lên quy mô nhỏ và vừa. Trong khi đó, số doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa phát triển thành doanh nghiệp lớn chỉ khoảng 7.200 đơn vị, tương đương 0,9%.
Sức ép đào thải cũng gia tăng. Năm 2025, tỷ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ đóng cửa lên tới 22,7%; nhóm nhỏ và vừa là 12,7%, trong khi doanh nghiệp lớn ở mức 4,9%. FiinGroup lưu ý, doanh nghiệp đóng cửa trong thống kê là doanh nghiệp không ghi nhận hoạt động trong năm, không đồng nghĩa toàn bộ đều phá sản.
Xét theo ngành, kinh doanh bất động sản và lưu trú, ăn uống có tỷ lệ đóng cửa cao nhất, lần lượt là 24% và 23,5%. Riêng lĩnh vực kinh doanh bất động sản có điểm rủi ro trung vị dưới 500, cho thấy mức độ rủi ro cần được lưu ý. Ngược lại, công nghiệp chế biến và xây dựng có tỷ lệ đóng cửa khoảng 13% cùng điểm rủi ro trung vị trên 550.
Hơn 50.000 doanh nghiệp tiềm năng cho tín dụng
Cơ cấu rủi ro của khu vực SME đã có dấu hiệu cải thiện. Tỷ trọng doanh nghiệp thuộc nhóm rủi ro cao trở lên tăng lên 62,2% vào cuối năm 2024, sau đó giảm dần xuống khoảng 39% vào tháng 6/2026. Nhóm rủi ro thấp và rất thấp tăng lên 37,2%.
![]() |
| Mức đóng góp của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong năm 2025. Nguồn: Fiingroup |
Tuy nhiên, tỷ lệ SME đóng cửa trong năm 2025 lên tới 17,3%, cao nhất trong giai đoạn quan sát từ năm 2022. Diễn biến này cho thấy sự cải thiện về cơ cấu rủi ro diễn ra cùng quá trình sàng lọc mạnh trên thị trường.
Gần 80% SME trong mẫu phân tích chưa ghi nhận nợ vay. Các ngân hàng và tổ chức tài chính có xu hướng lựa chọn doanh nghiệp hoạt động lâu năm, khi gần 85% SME có vốn vay đã tồn tại từ 5 năm trở lên và có hồ sơ rủi ro tốt hơn.
Dù vậy, hơn 40% doanh nghiệp hoạt động trên 5 năm, có mức rủi ro trung bình hoặc thấp vẫn chưa tiếp cận vốn vay. Đây có thể là nhóm khách hàng tiềm năng để các tổ chức tín dụng xem xét mở rộng dư nợ.
Trong số 162.000 doanh nghiệp hoạt động trên 5 năm nhưng chưa có nợ vay, 49,7% có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dương và 58% ghi nhận doanh thu tăng trưởng. Khoảng 51.000 doanh nghiệp đồng thời đáp ứng cả hai tiêu chí.
Nhóm chưa vay có quy mô tài sản và doanh thu thấp hơn, nhưng tăng trưởng doanh thu trung vị đạt 16,7%, cao hơn mức 11,7% của nhóm có nợ vay. Biên lợi nhuận ròng, tỷ suất sinh lời trên tài sản và khả năng thanh khoản cũng tương đối tích cực. Một bộ phận doanh nghiệp có thể đang sử dụng vốn tự có hoặc chưa phát sinh nhu cầu vay lớn.
Riêng lĩnh vực thương mại có khoảng 210.000 SME chưa vay vốn, trong đó 70.000 doanh nghiệp thuộc nhóm rủi ro thấp và 53.000 doanh nghiệp có rủi ro trung bình. Tuy nhiên, chỉ 23,4% doanh nghiệp thương mại có dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dương, cho thấy yêu cầu sàng lọc chặt chẽ khi cấp tín dụng.
Báo cáo cho thấy dư địa mở rộng tín dụng cho SME còn lớn, nhưng cần dựa trên dữ liệu, khả năng tạo dòng tiền và mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp. Về phía SME, minh bạch báo cáo tài chính, nâng cao năng lực quản trị và kiểm soát dòng tiền là điều kiện quan trọng để thu hẹp khoảng cách tiếp cận vốn.










