FDI vào Việt Nam tăng tốc: Năm 2027 có thể hút 50-55 tỷ USD
Dựa trên số liệu thực tế của năm 2026, đánh giá tác động của các yếu tố trong nước và quốc tế, TS Nguyễn Anh Tuấn dự báo nguồn vốn FDI năm 2027 vào Việt Nam có thể phát triển theo 3 kịch bản. Trong đó, kịch bản tích cực nhất, Việt Nam có thể thu hút 55 tỷ USD.
Năm 2026, Việt Nam có thể 'hút' 50 tỷ USD vốn FDI
Theo báo cáo của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, trong 7 tháng đầu năm 2026, dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục gia tăng mạnh. Cụ thể, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước và xấp xỉ bằng tổng vốn FDI đăng ký của cả năm 2025 (38,4 tỷ USD).
Vốn thực hiện ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ và là mức cao nhất trong vòng 5 năm qua. Cơ cấu vốn FDI đăng ký 7 tháng qua tiếp tục có sự chuyển dịch tích cực, tập trung vào lĩnh vực bán dẫn, công nghệ số và hạ tầng xanh.
Một số dự án FDI quy mô lớn tiêu biểu có thể kể đến như: Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quỳnh Lập, tổng mức đầu tư đăng ký 2,2 tỷ USD tại Nghệ An, hay dự án mở rộng của Samsung Electro-Mechanics tại Thái Nguyên, tổng mức đầu tư đăng ký 1,2 tỷ USD,...

Năm 2026, Việt Nam có thể 'hút' 50 tỷ USD vốn FDI. Ảnh: Moit
Về đối tác, Singapore dẫn đầu với 7,5 tỷ USD (chiếm 35,6% vốn cấp mới), tiếp theo là Hàn Quốc với 5,61 tỷ USD. Đáng chú ý, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam tiếp tục tăng nhanh với gần 3,7 tỷ USD.
Nhận định về dòng vốn FDI tiếp tục tăng mạnh vào Việt Nam, TS Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), cho biết: Quá trình này xuất phát từ nhiều yếu tố.
Thứ nhất, tình hình chính trị ổn định, quan hệ ngoại giao với các nước tiếp tục phát triển tích cực. Đặc biệt, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, 6 tháng GDP tăng 8,18%, phấn đấu đạt mục tiêu cả năm 10%.
Thứ hai, cải cách thể chế được triển khai đồng bộ, mạnh mẽ với nhiều Nghị quyết quan trọng được Bộ Chính trị ban hành. Đồng thời, nhiều luật, nghị định liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh đã và đang được Quốc hội và Chính phủ sửa đổi, bổ sung.
Thứ ba, kết cấu hạ tầng được nâng cấp, nhất là các tuyến đường bộ cao tốc, cảng biển, hệ thống logistic.
Thứ tư, niềm tin của các nhà đầu tư vào triển vọng kinh tế Việt Nam được củng cố, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn trong khu vực đối với các nhà đầu tư.
Theo TS Nguyễn Anh Tuấn, thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 10 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đó, Nghị quyết 10 đã đề ra nhiều mục tiêu quan trọng trong việc thu hút FDI giai đoạn 2026 - 2030.
Cụ thể, trong giai đoạn này, Nghị quyết đặt mục tiêu thu hút vốn FDI đăng ký khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD mỗi năm), vốn FDI thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD mỗi năm).
Theo ông, với kết quả thu hút FDI trong 7 tháng đầu năm, có thể thấy mục tiêu về vốn đăng ký năm 2026 là hoàn toàn đạt và có thể vượt con số 50 tỷ USD.
“Đối với vốn thực hiện, nếu giải quyết kịp thời các vướng mắc trong quá trình triển khai dự án, nhất là các dự án lớn, mục tiêu giải ngân 29-30 tỷ USD trong năm nay là khả thi”, ông nhấn mạnh.
Các kịch bản có thể xảy ra
Dựa trên số liệu thực tế của năm 2026, đánh giá tác động của các yếu tố trong nước và quốc tế, TS Nguyễn Anh Tuấn dự báo FDI năm 2027 có thể phát triển theo 3 kịch bản.
Đối với kịch bản tích cực, việc cách thể chế quyết liệt, kinh tế vĩ mô ổn định, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, rào cản về đầu tư - kinh doanh, đồng thời địa chính trị thế giới không có các đột biến xấu hơn, quy mô dòng vốn FDI đăng ký năm 2027 có thể duy trì ở mức cao, khoảng 50-55 tỷ USD.
Giải ngân FDI tiếp tục duy trì mức tăng trưởng từ 10-15%, đạt khoảng 32-35 tỷ USD.
“Với kịch bản này, ngoài các đối tác truyền thống như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, FDI từ Hoa Kỳ và EU sẽ từng bước gia tăng”, ông nhận định.
Đối với kịch bản trung bình, với các yếu tố tác động diễn ra ở mức trung bình, FDI đăng ký đạt khoảng 45-50 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 30-32 tỷ USD.

TS Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Ảnh: VAFIE
Đối với kịch bản thứ ba, cải cách thể chế chậm, kinh tế vĩ mô bất ổn định, đàm phán Thỏa thuận thương mại đối ứng Việt Nam – Hoa Kỳ không đạt kết quả như kỳ vọng,... dòng vốn FDI đăng ký mới có thể suy giảm tương ứng với mức độ tác động tiêu cực của từng yếu tố nói trên, khó đạt mức trung bình đề ra cho giai đoạn 2026- 2030. Tuy nhiên, vốn FDI thực hiện sẽ tiếp tục có sự tăng trưởng nhẹ.
Để đạt mục tiêu đề ra, TS Nguyễn Anh Tuấn cho rằng Việt Nam cần sớm triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp cơ bản đã được đề ra tại Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, trong đó lưu ý với một số vấn đề.
Thứ nhất là hoàn thiện thể chế. Ông cho rằng Việt Nam cần sớm thể chế hóa các quan điểm đề ra tại Nghị quyết 10, tạo cơ sở pháp lý để chuyển dần từ ưu đãi đầu tư truyền thống theo đầu vào sang cơ chế hỗ trợ đầu tư gắn với hiệu quả hoạt động của dự án, nhất là về chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số...
“Đây là vấn đề không dễ, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cụ thể phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế, làm cơ sở cho việc thực thi cơ chế hỗ trợ đầu ra”, TS Nguyễn Anh Tuấn nói.
Thứ hai, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư thông qua việc kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản về thủ tục đầu tư, về quỹ đất sạch, thuế, hải quan, đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực, cung cấp nguồn năng lượng sạch đáp ứng yêu cầu của các dự án công nghệ cao, nhất là các trung tâm dữ liệu, công nghiệp bán dẫn,...
Thứ ba, cùng với tiến trình đàm phán Thỏa thuận thương mại đối ứng với Hoa Kỳ, Việt Nam cần tăng cường giám sát tuân thủ quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa do doanh nghiệp FDI sản xuất tại Việt Nam, nhất là đối với các ngành điện tử, máy móc thiết bị, gỗ, thép, dệt may, da giày.
“Việc đảm bảo tiêu chí “xuất xứ Việt Nam” cũng là cơ hội để Việt Nam nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, thúc đẩy tính lan tỏa của khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước”, ông nói.
Thứ tư, Việt Nam cần sớm xây dựng hệ sinh thái đầu tư nước ngoài đồng bộ, nhất là gắn với việc xây dựng trung tâm tài chính (IFC) tại TP.HCM, Đà Nẵng và phát triển các khu thương mại tự do.
Thứ năm, chính quyền các địa phương cần đổi mới mạnh mẽ công tác xúc tiến đầu tư, nâng cao chất lượng danh mục dự án trọng điểm kêu gọi đầu tư và lựa chọn đối tác phù hợp để tập trung vận động đầu tư đối với từng dự án.
Thứ sáu, phát huy hơn nữa vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề trong việc góp ý hoàn thiện thể chế, xúc tiến đầu tư, kết nối doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.
“Cuối cùng, niềm tin của nhà đầu tư là hết sức quan trọng. Niềm tin đó chỉ được củng cố và nâng cao từ sự phát triển của nền kinh tế, từ kết quả cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, từ thực thi pháp luật và hành động thiết thực cụ thể của chính quyền các cấp”, TS Nguyễn Anh Tuấn khẳng định.








