• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Cổ phiếu ngân hàng cuối năm phân hóa theo chất lượng

Bức tranh kinh doanh nửa đầu năm 2026 cho thấy ngành ngân hàng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối cao.

Cổ phiếu ngân hàng cuối năm phân hóa theo chất lượng
Triển vọng lợi nhuận ngân hàng vẫn tích cực, nhưng cơ hội đầu tư ngày càng chọn lọc giữa nhóm tăng trưởng như VPB, HDB, MBB và nhóm phòng thủ VCB, CTG, BID. Ảnh có hỗ trợ của AI.

Tín dụng tiếp tục dẫn dắt lợi nhuận

Bức tranh kinh doanh nửa đầu năm 2026 cho thấy ngành ngân hàng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối cao. Tổng hợp báo cáo tài chính quý II của 27 ngân hàng niêm yết ghi nhận doanh thu 401.328 tỷ đồng, tăng 48,5% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế đạt 89.296 tỷ đồng, tăng 25%. Dư nợ tín dụng tăng 8,51% so với đầu năm, trong khi huy động chỉ tăng 4,36%.

Khoảng cách giữa tín dụng và huy động cũng là điểm cần lưu ý trong những tháng cuối năm. Tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) toàn ngành đã tăng khoảng 2 điểm phần trăm trong quý II, lên 88%; riêng nhóm ngân hàng thương mại cổ phần cỡ trung ở khoảng 96%. Cạnh tranh huy động vì vậy có thể tiếp tục gây áp lực lên chi phí vốn và NIM, nhất là tại những ngân hàng có CASA thấp.

NIM khó phục hồi nhanh do lãi suất cho vay tiếp tục được duy trì ở mức hỗ trợ nền kinh tế trong khi chi phí huy động chịu sức ép. Những ngân hàng có CASA cao, thanh khoản tốt, bộ đệm vốn lớn và chất lượng tài sản ổn định vì vậy có nhiều lợi thế hơn.

Một yếu tố hỗ trợ là Quyết định số 1743/QĐ-NHNN nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động khi xác định LDR từ 20% lên 50%. Nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước gồm VCB, BID và CTG được đánh giá hưởng lợi rõ hơn nhờ nắm giữ lượng lớn tiền gửi Kho bạc Nhà nước.

Dù vậy, chất lượng tài sản vẫn cần được theo dõi. Tỷ lệ nợ xấu bình quân của 27 ngân hàng niêm yết giảm về 2,41%, nhưng số dư nợ xấu trong quý II vẫn tăng khoảng 6% so với quý trước, lên 309.600 tỷ đồng. Điều này cho thấy tăng trưởng lợi nhuận cuối năm sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng kiểm soát nợ xấu và chi phí dự phòng thay vì chỉ dựa vào tốc độ mở rộng tín dụng.

Chọn cổ phiếu theo nền vốn và chất lượng tài sản

Sau giai đoạn tăng giá, định giá ngành ngân hàng không còn ở vùng quá thấp. Chứng khoán Shinhan cho biết P/B toàn ngành ở khoảng 1,4 lần, thấp hơn khoảng 14% so với trung bình 5 năm là 1,66 lần nhưng đã tiến gần vùng một độ lệch chuẩn dưới trung bình. Diễn biến này cho thấy một phần triển vọng lợi nhuận đã được phản ánh vào giá và dư địa tăng sẽ phân hóa mạnh hơn giữa từng ngân hàng.

Theo hướng phòng thủ, Shinhan ưu tiên nhóm VCB, CTG và BID nhờ chất lượng tài sản, quy mô tài sản lớn và chi phí vốn tương đối ổn định. Trong nửa đầu năm, VCB đạt lợi nhuận trước thuế 29.222 tỷ đồng, tăng 33,5%; CTG đạt 25.868 tỷ đồng, tăng 36,7%; BID đạt 18.905 tỷ đồng, tăng 17,9%. Tỷ lệ nợ xấu của VCB và CTG lần lượt ở mức 0,6% và 1,2%, thấp hơn đáng kể nhiều ngân hàng tư nhân.

Ở nhóm tăng trưởng, MBB, VPB, TCB và HDB nổi bật hơn nhờ tốc độ mở rộng tín dụng và khả năng sinh lời. MBB ghi nhận tín dụng tăng 13,2% từ đầu năm, lợi nhuận trước thuế tăng 27,1%, CASA đạt 34,4%. TCB có CASA 35%, tín dụng tăng 15,2% và lợi nhuận tăng 22,5%. Đây cũng là hai ngân hàng được NSI đánh giá có lợi thế trong bảo vệ NIM nhờ nền CASA cao.

VPB nổi bật về tốc độ khi tín dụng nửa đầu năm tăng 23%, trong khi lợi nhuận trước thuế tăng 68,1%. NSI cho rằng ngân hàng vẫn còn dư địa tín dụng khi room của ngân hàng mẹ ở mức 35%; kế hoạch nâng vốn điều lệ lên hơn 106.000 tỷ đồng cũng tạo thêm nền tảng cho mở rộng bảng cân đối.

HDB cũng thuộc nhóm tăng trưởng cao với dư nợ tín dụng cuối quý II khoảng 698.400 tỷ đồng, tăng 18,76% so với đầu năm; lợi nhuận trước thuế 6 tháng đạt 13.202 tỷ đồng, tăng 31%. CAR ở mức 16,16% cùng khoản huy động 721 triệu USD từ các định chế tài chính quốc tế tạo thêm dư địa vốn cho ngân hàng.

Như vậy, cơ hội ở cổ phiếu ngân hàng trong những tháng cuối năm vẫn hiện hữu nhưng khó còn mang tính đồng đều. Tín dụng cao tiếp tục là động cơ tăng trưởng, trong khi CASA, CAR, NIM, nợ xấu và khả năng huy động vốn sẽ quyết định mức độ chuyển hóa tăng trưởng tài sản thành lợi nhuận. Thay vì kỳ vọng một nhịp tăng chung của toàn ngành, dòng tiền có thể ưu tiên những ngân hàng vừa duy trì được tốc độ tăng trưởng, vừa sở hữu bộ đệm vốn và chất lượng tài sản đủ tốt để đi qua giai đoạn chi phí vốn còn nhiều sức ép.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết