Mở cơ chế, khơi nguồn lực cho doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt tăng trưởng
Doanh nghiệp nhà nước đang bước vào giai đoạn cơ cấu lại với những yêu cầu mới. Trọng tâm không đơn thuần là giảm số lượng doanh nghiệp, cổ phần hóa hay thoái vốn, mà hướng tới nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước, xây dựng những doanh nghiệp đủ mạnh để đảm nhận vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược.
![]() |
| Để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực chiến lược cần mở rộng cơ chế và huy động nguồn lực phát triển. |
Hoàn thiện thể chế, mở không gian cho doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước đang bước vào giai đoạn cơ cấu lại với những yêu cầu mới. Trọng tâm không đơn thuần là giảm số lượng doanh nghiệp, cổ phần hóa hay thoái vốn, mà hướng tới nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước, xây dựng những doanh nghiệp đủ mạnh để đảm nhận vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược.
Định hướng này được xác lập rõ tại Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Nghị quyết xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò then chốt, thực hiện nhiệm vụ dẫn dắt, định hướng, mở đường trong những ngành, lĩnh vực chiến lược, thiết yếu của nền kinh tế.
Nghị quyết số 79-NQ/TW đồng thời đặt ra yêu cầu doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại; lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu; cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Đến năm 2030, phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1-3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; xây dựng một số tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh, quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế, giữ vai trò dẫn dắt doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào một số chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu.
Những mục tiêu phát triển mà Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra cũng đòi hỏi một khuôn khổ thể chế tương ứng. Để doanh nghiệp nhà nước thực sự phát huy vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực chiến lược, cơ chế quản lý vốn cần được đổi mới theo hướng mở rộng quyền chủ động, tạo điều kiện cho doanh nghiệp linh hoạt hơn trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh và huy động nguồn lực phát triển.
Luật số 68/2025/QH15 về Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2025, có hiệu lực từ ngày 1/8/2025. Luật thay thế Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, tạo khuôn khổ pháp lý mới đối với hoạt động đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Một trong những điểm đáng chú ý của Luật số 68/2025/QH15 là tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm. Việc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ được thực hiện thông qua người đại diện phần vốn nhà nước; đồng thời xác định những nội dung người đại diện phải báo cáo, xin ý kiến cơ quan đại diện chủ sở hữu trước khi tham gia biểu quyết.
Khung pháp lý tiếp tục được hoàn thiện với các quy định cụ thể về quản lý vốn, giám sát và cơ cấu lại doanh nghiệp. Ngày 31/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 365/2025/NĐ-CP về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp; đồng thời ban hành Nghị định số 366/2025/NĐ-CP về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Tiếp đó, ngày 12/2/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2026/NĐ-CP về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tạo cơ sở pháp lý cho việc sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong giai đoạn mới.
Các quy định mới từng bước hình thành cơ chế quản lý đồng bộ hơn, trong đó quyền chủ động của doanh nghiệp được mở rộng gắn với yêu cầu giám sát, công khai, minh bạch và trách nhiệm đối với hiệu quả quản lý, sử dụng vốn nhà nước.
Yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý càng có ý nghĩa khi đặt trong tương quan với quy mô nguồn lực doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ. Theo số liệu đến cuối năm 2025, cả nước còn 695 doanh nghiệp nhà nước, trong đó 497 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và 198 doanh nghiệp có vốn nhà nước chi phối. Khối doanh nghiệp này quản lý khoảng 4,5 triệu tỷ đồng tài sản, với vốn chủ sở hữu khoảng 2,02 triệu tỷ đồng.
Nguồn lực lớn đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng, chuyển hóa vốn và tài sản nhà nước thành năng lực đầu tư và phát triển của doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đánh giá, khu vực doanh nghiệp nhà nước đã có những doanh nghiệp quy mô lớn, giữ vai trò dẫn dắt trong một số ngành, lĩnh vực trọng yếu. Tuy nhiên, kết quả hoạt động vẫn chưa tương xứng với nguồn lực đang nắm giữ và yêu cầu phát triển mới; tiến độ cơ cấu lại, cổ phần hóa, thoái vốn còn chậm, trong khi năng lực quản trị và đổi mới sáng tạo vẫn còn những hạn chế.
Theo ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước không đơn thuần là giảm số lượng doanh nghiệp thông qua sáp nhập, giải thể hay thoái vốn. Mục tiêu cốt lõi phải hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước và khu vực kinh tế nhà nước, gắn với vai trò dẫn dắt, mở đường và thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW.
Tập trung nguồn lực cho những lĩnh vực dẫn dắt tăng trưởng
Trên nền tảng khuôn khổ pháp lý mới về quản lý, đầu tư và cơ cấu lại vốn nhà nước, yêu cầu tiếp theo là xác định rõ phạm vi, mức độ Nhà nước nắm giữ vốn tại doanh nghiệp, qua đó tập trung nguồn lực vào những ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược và cần vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước.
Ngày 5/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg về tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước.
Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg xác lập tiêu chí phân loại theo ngành, lĩnh vực và khung tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ tại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn. Theo đó, doanh nghiệp được phân theo các nhóm Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; từ 65% vốn điều lệ trở lên; trên 50% đến dưới 65%; từ 50% vốn điều lệ trở xuống và các trường hợp thực hiện cơ cấu lại theo quy định.
Việc xác định tỷ lệ sở hữu theo ngành, lĩnh vực tạo căn cứ để cơ quan đại diện chủ sở hữu xây dựng kế hoạch cơ cấu lại vốn tại từng doanh nghiệp, tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực Nhà nước cần duy trì vai trò chi phối, dẫn dắt và cơ cấu lại vốn tại những doanh nghiệp không thuộc diện cần duy trì tỷ lệ sở hữu cao.
Định hướng này gắn với yêu cầu tại Nghị quyết số 79-NQ/TW về tập trung doanh nghiệp nhà nước vào các ngành, lĩnh vực chiến lược, thiết yếu; những địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh; đồng thời phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có công nghệ hiện đại và năng lực cạnh tranh quốc tế.
Nghị quyết số 79-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu nghiên cứu cơ chế tăng vốn điều lệ; cho phép sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tăng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp nhằm bổ sung vốn đầu tư phát triển.
Thực tế tại doanh nghiệp cho thấy năng lực tài chính có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng mở rộng đầu tư. Ông Trần Công Hòa, Thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) cho biết, việc được tăng vốn điều lệ từ hơn 1.100 tỷ đồng lên trên 39.000 tỷ đồng trong năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp VEC củng cố năng lực tài chính, huy động thêm nguồn vốn xã hội để triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm.
Cùng với việc cơ cấu lại, vốn nhà nước cần được tập trung vào những doanh nghiệp, ngành và lĩnh vực có vai trò quan trọng, khả năng triển khai các dự án quy mô lớn và tạo sức lan tỏa. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng góp phần củng cố năng lực đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, tạo điều kiện huy động thêm các nguồn lực xã hội cho phát triển.
Ngay sau khi Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg được ban hành, Chính phủ tiếp tục thúc đẩy quá trình cơ cấu lại vốn nhà nước với yêu cầu cụ thể về tiến độ. Ngày 7/8/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 52/CĐ-TTg về triển khai công tác cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và doanh nghiệp nhà nước tập trung triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ được giao.
Công điện số 52/CĐ-TTg yêu cầu khẩn trương xây dựng, phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026-2030 đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quản lý. Công điện cũng đặt ra các nhiệm vụ về tái cơ cấu Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC), giám sát quá trình chuyển giao và quản lý vốn của SCIC tại doanh nghiệp; khuyến khích hợp nhất, sáp nhập, chuyển giao doanh nghiệp theo quy định để phát huy lợi thế tổng thể của ngành kinh tế.
Như vậy, trọng tâm của quá trình cơ cấu lại đang chuyển từ hoàn thiện hành lang pháp lý sang tổ chức thực hiện và phân bổ nguồn lực. Vấn đề đặt ra không phải mở rộng sự hiện diện của vốn nhà nước trong mọi ngành, lĩnh vực, mà là tập trung nguồn lực vào những nơi cần vai trò của Nhà nước và có khả năng tạo sức lan tỏa.
Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2026-2030 vì thế cần gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, năng lực quản trị và sức cạnh tranh; tạo điều kiện cho những doanh nghiệp có tiềm lực thực hiện các dự án lớn, đầu tư vào lĩnh vực chiến lược, đổi mới công nghệ và mở rộng liên kết.
Phân bổ nguồn lực đúng trọng tâm, mở rộng quyền chủ động gắn với trách nhiệm sẽ tạo thêm dư địa để doanh nghiệp nhà nước phát huy tiềm lực về vốn, tài sản và quy mô. Đây là nền tảng để doanh nghiệp nâng cao năng lực đầu tư, mở rộng liên kết, tạo sức lan tỏa, qua đó khẳng định vai trò dẫn dắt và đóng góp tích cực vào các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.









