• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Để FDI không còn là “ốc đảo”, cần tiêu chí đo hiệu quả đầu tư

Đây là nhận định của TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) trong cuộc trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính về yêu cầu đổi mới tư duy thu hút FDI, nâng cao chất lượng và sức lan tỏa của dòng vốn ngoại, qua đó đóng góp hiệu quả hơn vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam trong giai đoạn tới.

Để FDI không còn là “ốc đảo”, cần tiêu chí đo hiệu quả đầu tư
Cần đổi mới tư duy thu hút FDI, nâng cao chất lượng và sức lan tỏa
của dòng vốn ngoại. Ảnh AI minh họa.

Đây là nhận định của TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) trong cuộc trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính về yêu cầu đổi mới tư duy thu hút FDI, nâng cao chất lượng và sức lan tỏa của dòng vốn ngoại, qua đó đóng góp hiệu quả hơn vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam trong giai đoạn tới.

Phóng viên: Hiện nay FDI đang tăng mạnh, nhưng để Việt Nam đạt và duy trì tăng trưởng 2 con số, theo ông, khu vực FDI cần đóng vai trò như thế nào: “bổ sung vốn” hay phải trở thành động lực nâng năng suất, công nghệ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế?

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Tôi cho rằng cần nhìn nhận FDI ở cả hai phương diện. Trước hết, FDI vẫn là nguồn vốn rất cần thiết để bổ sung cho đầu tư phát triển, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn FDI đơn thuần như một nguồn vốn thì chưa đầy đủ.

Quan điểm, định hướng chính sách hiện nay đã xác định khá rõ là thu hút FDI phải nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết và lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, tăng cường năng lực cạnh tranh và tính tự chủ chiến lược của nền kinh tế.

Để FDI không còn là “ốc đảo”, cần tiêu chí đo hiệu quả đầu tư
TS. Nguyễn Anh Tuấn
Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE).

Vì vậy, tôi cho rằng FDI trong giai đoạn mới phải là FDI thế hệ mới, chất lượng cao, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chứ không phải chạy đua theo số lượng hay quy mô vốn.

Điều này càng quan trọng khi nhìn vào cơ cấu đầu tư hiện nay. Trong 8 tháng đầu năm, dòng vốn FDI đã có sự chuyển dịch tích cực, tập trung hơn vào các lĩnh vực như bán dẫn, công nghệ số và hạ tầng xanh. Đây là tín hiệu đáng khích lệ. Nhưng bước tiếp theo phải là làm thế nào để những dự án này tạo ra năng suất cao hơn, công nghệ tốt hơn và đặc biệt là tạo được sự lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước.

Nói cách khác, vốn là điều kiện cần, nhưng chất lượng và hiệu quả của dòng vốn mới quyết định đóng góp của FDI đối với tăng trưởng dài hạn.

Phóng viên: Ông từng nhấn mạnh quan điểm “nguồn lực trong nước là quyết định, nguồn lực nước ngoài là quan trọng”. Vậy để đạt tăng trưởng 2 con số trong những năm tới, Việt Nam cần làm gì để khu vực tư nhân trong nước thực sự trở thành động lực tăng trưởng lớn hơn, thay vì phụ thuộc vào việc mở rộng dòng vốn FDI?

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Đây là một vấn đề rất quan trọng. Quan điểm “nguồn lực trong nước là quyết định, nguồn lực nước ngoài là quan trọng” cần được quán triệt trong việc xây dựng cơ cấu đầu tư và chính sách phát triển.

Theo tôi, không nên đặt vấn đề tăng trưởng của Việt Nam trong tương lai chỉ dựa vào việc FDI tiếp tục tăng bao nhiêu tỷ USD. Mục tiêu hợp lý phải là huy động và sử dụng hiệu quả cả nguồn lực trong nước và nguồn lực nước ngoài.

Nếu xét về cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, tôi cho rằng khu vực tư nhân trong nước cần tiếp tục giữ vai trò lớn. Một cơ cấu tương đối hợp lý có thể là khu vực Nhà nước khoảng 25%, khu vực tư nhân trong nước khoảng 55% và khu vực FDI khoảng 20%. Năm 2025, tỷ lệ tương ứng là 27,2%, 56,5% và 16,3%.

Điều đáng chú ý là dù tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư chưa phải lớn nhất, khu vực này năm 2025 đóng góp tới 21,2% cho tăng trưởng GDP và khoảng 38% ngân sách Nhà nước. Điều đó cho thấy FDI có vai trò rất quan trọng, nhưng đồng thời cũng cho thấy chúng ta cần khai thác tốt hơn sức mạnh của khu vực kinh tế trong nước.

Để FDI không còn là “ốc đảo”, cần tiêu chí đo hiệu quả đầu tư
Thiết kế có sự hỗ trợ của AI.

Muốn khu vực tư nhân trở thành động lực tăng trưởng lớn hơn, trước hết phải tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục, đất đai, thuế, hải quan và tiếp cận các nguồn lực. Cùng với đó là phát triển thị trường vốn, xây dựng hệ sinh thái đầu tư đồng bộ và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước lớn mạnh.

Đặc biệt, tôi cho rằng cần nhìn khu vực tư nhân trong nước không chỉ với tư cách là một khu vực kinh tế độc lập, mà còn là lực lượng có khả năng tham gia sâu vào hệ sinh thái của các doanh nghiệp FDI. Khi doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia, giá trị mà FDI tạo ra sẽ được lan tỏa rộng hơn trong nền kinh tế.

Phóng viên: Một trong những yêu cầu quan trọng để tăng trưởng cao là tạo được sự lan tỏa từ khu vực FDI sang doanh nghiệp Việt Nam. Theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay khiến doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI, và cần tháo gỡ như thế nào?

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Theo tôi, đây cũng là một trong những vấn đề cốt lõi cần giải quyết đối với khu vực FDI. Lâu nay, khu vực này chưa gắn kết chặt chẽ với khu vực kinh tế trong nước, trong nhiều trường hợp vẫn tồn tại như một khu vực tương đối tách biệt. Chính vì vậy, mục tiêu thu hút FDI của chúng ta vẫn chưa đạt được như kỳ vọng.

Điều tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh là việc sớm xây dựng được một bộ tiêu chí để đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư, làm cơ sở cho việc thực hiện các chính sách hỗ trợ. Đây là vấn đề rất khó, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành. Bởi chừng nào chúng ta chưa có được một bộ tiêu chí thống nhất làm căn cứ cho hỗ trợ thì chừng đó việc chuyển từ chính sách ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ dựa trên hiệu quả đầu tư vẫn có nguy cơ bị ách tắc, và những thay đổi về chính sách sẽ khó đi vào cuộc sống.

Vì sao chúng ta phải thay đổi chính sách? Bởi mục tiêu là khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường chuyển giao công nghệ, gắn kết với doanh nghiệp trong nước, đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất, lắp ráp. Nếu không có một cách làm mới thì những điều chúng ta mong muốn rất dễ chỉ dừng lại ở mong muốn.

Vì vậy, khi đã có nghị quyết và chủ trương, nhiệm vụ quan trọng tiếp theo là các bộ, ngành phải phối hợp với nhau để xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư. Hiệu quả đó phải được thể hiện bằng những kết quả cụ thể, chẳng hạn dự án phát triển thêm được bao nhiêu nhà cung ứng trong nước, nâng được bao nhiêu phần trăm tỷ lệ nội địa hóa. Đây là những vấn đề rất quan trọng.

Nếu muốn tạo ra sự thay đổi thực chất thì phải có tiêu chí rõ ràng để đánh giá hiệu quả đầu tư và làm căn cứ cho các chính sách hỗ trợ. Khi đó, chính sách thu hút FDI mới thực sự chuyển từ mục tiêu thu hút vốn sang mục tiêu tạo ra giá trị gia tăng, tăng cường liên kết, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam.

Phóng viên: Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt, Việt Nam có nên tiếp tục chạy đua về quy mô vốn hay cần chuyển hẳn sang thu hút “FDI thế hệ mới”? Những tiêu chí nào cần được đặt lên hàng đầu để một dự án FDI thực sự đóng góp vào tăng trưởng dài hạn?

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Việt Nam không nhất thiết phải chạy đua bằng mọi giá về tốc độ tăng vốn FDI. Quy mô vốn vẫn là một chỉ tiêu quan trọng, song cần được đặt trong yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả của dòng vốn đầu tư.

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 thu hút khoảng 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, tương đương 40-50 tỷ USD mỗi năm; vốn thực hiện đạt khoảng 150-200 tỷ USD, tương đương 30-40 tỷ USD mỗi năm. Đây là những mục tiêu được xác định trên cơ sở cân đối nguồn lực trong nước và quốc tế phục vụ phát triển bền vững. Tuy nhiên, bên cạnh quy mô vốn, điều cần quan tâm sâu hơn là mỗi dự án tạo ra giá trị gì và để lại năng lực gì cho nền kinh tế Việt Nam.

Để FDI không còn là “ốc đảo”, cần tiêu chí đo hiệu quả đầu tư
Thiết kế có sự hỗ trợ của AI.

Theo tôi, chất lượng FDI phải được lượng hóa bằng những kết quả cụ thể. Một dự án giúp phát triển thêm bao nhiêu nhà cung ứng trong nước? Tỷ lệ nội địa hóa được nâng lên ở mức nào? Doanh nghiệp Việt Nam có tiếp nhận được công nghệ, kỹ năng quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hay không? Dự án đóng góp ra sao cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động? Những kết quả này cần trở thành căn cứ quan trọng để Nhà nước lựa chọn dự án, đồng thời thiết kế các chính sách hỗ trợ phù hợp.

Đó cũng là sự chuyển dịch căn bản trong tư duy thu hút “FDI thế hệ mới” khi từ chú trọng số vốn đăng ký sang coi trọng chất lượng và giá trị lan tỏa. Thước đo thành công của một dự án FDI cần nằm ở công nghệ, năng suất, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước, chất lượng việc làm và năng lực mới được hình thành cho nền kinh tế.

Khi những yếu tố này được đặt ở vị trí trung tâm, FDI mới thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng dài hạn và phát triển bền vững.

Phóng viên: Nếu chỉ được lựa chọn 3 ưu tiên chính sách cho giai đoạn 2026-2030 để vừa thu hút FDI chất lượng cao vừa tạo nền tảng cho tăng trưởng 2 con số bền vững, ông sẽ lựa chọn những gì?

TS. Nguyễn Anh Tuấn: Nếu chỉ được lựa chọn ba nhóm ưu tiên, tôi sẽ chọn cải cách thể chế; hạ tầng - năng lượng; và khoa học công nghệ gắn với phát triển nguồn nhân lực và doanh nghiệp trong nước. Ba nhóm này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau.

Thứ nhất là cải cách thể chế. Đây là điều kiện nền tảng. Chúng ta cần sớm thể chế hóa các quan điểm, định hướng mới về FDI, đồng thời tạo ra môi trường đầu tư thống nhất, đồng bộ, công khai, minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo cao.

Đặc biệt, phải sớm hoàn thiện cơ chế chuyển từ ưu đãi đầu tư truyền thống theo đầu vào sang hỗ trợ đầu tư gắn với hiệu quả hoạt động của dự án. Và muốn thực hiện được điều đó thì phải có bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư cụ thể, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Thứ hai là hạ tầng và năng lượng, trong đó năng lượng sạch là một yêu cầu ngày càng cấp thiết. Khả năng hấp thụ FDI không chỉ phụ thuộc vào việc chúng ta có quỹ đất hay không mà còn phụ thuộc vào khả năng cung cấp năng lượng sạch, đất sạch, logistics và nguồn nhân lực. Đối với các ngành công nghệ cao, đặc biệt là trung tâm dữ liệu và công nghiệp bán dẫn, yêu cầu về năng lượng sạch càng rõ rệt.

Thứ ba là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước. Thu hút được một dự án công nghệ cao mới chỉ là bước đầu. Điều quan trọng hơn là công nghệ đó phải tạo ra năng lực mới cho nền kinh tế, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.

Tôi cho rằng đây cũng là cách để kết nối 3 mục tiêu gồm thu hút FDI chất lượng cao, phát triển khu vực tư nhân trong nước và nâng cao năng suất của toàn nền kinh tế.

Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh rằng niềm tin của nhà đầu tư là hết sức quan trọng. Niềm tin không chỉ đến từ những chính sách được ban hành mà phải được củng cố bằng sự phát triển của nền kinh tế, kết quả cải cách thể chế, môi trường đầu tư được cải thiện, việc thực thi pháp luật và những hành động thiết thực, cụ thể của chính quyền các cấp.

Nếu làm được điều đó, Việt Nam không chỉ thu hút được nhiều FDI hơn mà quan trọng hơn là thu hút được dòng FDI tạo ra năng suất, công nghệ, doanh nghiệp cung ứng và năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế. Đó mới là nền tảng để tăng trưởng 2 con số có thể duy trì trong dài hạn.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết