Cơ cấu lại vốn nhà nước, mở đường cho doanh nghiệp phát triển
Bộ trưởng Bộ Xây dựng vừa ban hành Quyết định số 1537/QĐ-BXD phê duyệt kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại các doanh nghiệp do Bộ làm cơ quan đại diện chủ sở hữu giai đoạn 2026-2030. Theo kế hoạch, 13 doanh nghiệp được phân nhóm để tiếp tục duy trì 100% vốn nhà nước, giữ nguyên tỷ lệ sở hữu, cổ phần hóa, chuyển giao hoặc thực hiện phá sản.
![]() |
| Cơ cấu vốn nhà nước hướng nguồn lực vào những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế. |
Phân định rõ vai trò của vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Bộ trưởng Bộ Xây dựng vừa ban hành Quyết định số 1537/QĐ-BXD phê duyệt kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại các doanh nghiệp do Bộ làm cơ quan đại diện chủ sở hữu giai đoạn 2026-2030. Theo kế hoạch, 13 doanh nghiệp được phân nhóm để tiếp tục duy trì 100% vốn nhà nước, giữ nguyên tỷ lệ sở hữu, cổ phần hóa, chuyển giao hoặc thực hiện phá sản.
Trong giai đoạn 2026-2030, Nhà nước tiếp tục nắm giữ 100% vốn điều lệ tại 6 doanh nghiệp, gồm Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM), Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam, Công ty TNHH MTV Thông tin điện tử hàng hải Việt Nam (VISHIPEL), Công ty TNHH MTV Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Tổng công ty Xi măng Việt Nam (VICEM) và Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD).
Đối với nhóm giữ nguyên tỷ lệ vốn nhà nước, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - CTCP duy trì tỷ lệ sở hữu Nhà nước 97,88% đến năm 2030; Tổng công ty Xây dựng Hà Nội - CTCP giữ nguyên tỷ lệ 98,83%.
Tại Tổng công ty Viglacera - CTCP, Nhà nước tiếp tục nắm 38,58% vốn để doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của ngành Xây dựng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp sẽ được chuyển giao cho một đơn vị có chức năng đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước, dự kiến hoàn thành vào năm 2030.
Với nhóm Nhà nước không tiếp tục nắm giữ vốn, Công ty TNHH MTV Cơ khí ô tô và Thiết bị điện Đà Nẵng (DAMCO) sẽ thực hiện cổ phần hóa trong giai đoạn 2026-2027. Trường hợp sau khi xử lý tài chính và xác định lại giá trị doanh nghiệp mà giá trị thực tế thấp hơn các khoản phải trả, DAMCO sẽ phối hợp với Công ty Mua bán nợ Việt Nam và các chủ nợ để xử lý nợ, tái cơ cấu trước khi cổ phần hóa. Nếu phương án này không khả thi, doanh nghiệp thực hiện hình thức chuyển đổi khác theo quy định.
Công ty Thương mại và Đầu tư giao thông vận tải, hiện có 100% vốn nhà nước, tiếp tục thực hiện thủ tục phá sản trong giai đoạn 2026-2030. Tổng công ty Cơ khí xây dựng - CTCP, nơi Nhà nước đang nắm 98,76% vốn, sẽ chuyển quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước sang HUD trong giai đoạn 2026-2027. Tổng công ty Xây dựng đường thủy - CTCP, nơi Nhà nước sở hữu 36,62% vốn, cũng sẽ chuyển quyền đại diện chủ sở hữu sang một doanh nghiệp có chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước trong cùng giai đoạn.
Bộ Xây dựng yêu cầu các doanh nghiệp và người đại diện phần vốn nhà nước xây dựng kế hoạch cụ thể về cổ phần hóa, chuyển giao và tiếp nhận doanh nghiệp, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định. Tình hình thực hiện kế hoạch phải được báo cáo trước ngày 20/12 hàng năm hoặc đột xuất khi có yêu cầu.
Trước đó, Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phân loại doanh nghiệp để thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước đã thiết lập khung tiêu chí để các cơ quan đại diện chủ sở hữu xây dựng kế hoạch sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước, xác định những ngành, lĩnh vực Nhà nước cần tiếp tục nắm giữ và tỷ lệ sở hữu phù hợp.
| Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2026 diễn ra ngày 3/9 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương thường xuyên rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng theo từng tháng, từng quý; chủ động nhận diện những điểm nghẽn ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng để tập trung tháo gỡ, quyết tâm cao nhất đạt mục tiêu đề ra. Cùng với yêu cầu tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, Thủ tướng giao Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện phương án sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp có vốn nhà nước gắn với niêm yết để tăng hàng hóa trên thị trường chứng khoán. |
Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg quy định tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo danh mục ngành, lĩnh vực và khung tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ tại doanh nghiệp, làm cơ sở xây dựng kế hoạch để sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước theo hướng giữ nguyên tỷ lệ vốn đang nắm giữ hoặc thực hiện các hình thức cơ cấu lại theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.
Theo đó, Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ tại doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên; doanh nghiệp khoa học và công nghệ; doanh nghiệp xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm, quan trọng quốc gia trong lĩnh vực giao thông, thủy lợi, năng lượng, hạ tầng số; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế.
Nhóm thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước nắm giữ từ 65% vốn điều lệ trở lên gồm các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực như quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay; vận chuyển hàng không; quản lý khai thác bến cảng tại cảng biển đặc biệt; khai thác khoáng sản quy mô lớn; tài chính, ngân hàng; cơ khí chế tạo và một số lĩnh vực thiết yếu khác.
Đối với nhóm Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 65% vốn điều lệ, Quyết định xác định các lĩnh vực gồm đầu mối nhập khẩu xăng dầu chiếm thị phần từ 30% trở lên, có vai trò bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, bình ổn thị trường; cung cấp dịch vụ viễn thông có tầm quan trọng đặc biệt đối với hạ tầng viễn thông quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; tìm kiếm, thăm dò, đánh giá trữ lượng các loại khoáng sản, trừ dầu khí.
Với doanh nghiệp có ngành, lĩnh vực không thuộc các tiêu chí phân loại, việc sắp xếp, cơ cấu lại vốn được thực hiện theo hướng Nhà nước không tiếp tục nắm giữ vốn tại doanh nghiệp, trừ trường hợp thực hiện theo pháp luật chuyên ngành.
Khung tiêu chí này tạo cơ sở để phân định rõ hơn phạm vi Nhà nước cần tập trung nguồn lực, qua đó hạn chế đầu tư dàn trải. Nguồn vốn nhà nước được định hướng vào các ngành, lĩnh vực cốt lõi, then chốt, thiết yếu, gắn với cung ứng dịch vụ công ích, kết cấu hạ tầng trọng điểm, bảo đảm các cân đối lớn và những nhiệm vụ quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ cấu vốn để tạo thêm dư địa phát triển
Một trong những điểm đáng chú ý của Quyết định 40 là khoảng cách giữa tỷ lệ vốn nhà nước đang nắm giữ thực tế tại một số doanh nghiệp với khung tỷ lệ sở hữu được xác định theo tiêu chí mới.
Theo số liệu Công ty Chứng khoán An Bình (ABS) tỷ lệ sở hữu nhà nước tại nhiều doanh nghiệp hiện ở mức cao, như ACV 95,41%, GAS 95,76%, BSR 92,13%, VGI 99,03% và VCB 74,8%.
Theo đánh giá của ABS, khoảng cách giữa tỷ lệ sở hữu nhà nước hiện tại tại nhiều doanh nghiệp và ngưỡng sở hữu theo khung mới tạo ra dư địa đáng kể cho quá trình thoái vốn trong những năm tới. Nếu được triển khai tại các doanh nghiệp đủ điều kiện, việc giảm tỷ lệ sở hữu có thể đưa thêm một lượng cổ phiếu ra thị trường, cải thiện tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng và thanh khoản, đồng thời mở rộng quy mô cổ phiếu có thể giao dịch.
Bên cạnh đó, việc xác định rõ khung sở hữu cũng tạo điều kiện để nguồn lực nhà nước được phân bổ lại phù hợp hơn. Phần vốn cần thiết có thể tiếp tục được quản lý, đầu tư phát triển; phần vốn không còn thuộc lĩnh vực Nhà nước cần trực tiếp nắm giữ có cơ sở để thực hiện tái cơ cấu hoặc thoái vốn theo quy định.
Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg quy định, đối với doanh nghiệp thuộc một số tiêu chí mà Nhà nước đang nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống, việc cơ cấu được thực hiện theo hướng chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước cho doanh nghiệp có chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước cùng ngành nghề để quản lý, đầu tư phát triển, thực hiện tái cơ cấu, bổ sung vốn hoặc thoái vốn theo quy định, bảo đảm hiệu quả.
Điều này đặt cơ cấu lại vốn trong một chu trình rộng hơn thay vì chỉ nhìn dưới góc độ giảm tỷ lệ sở hữu. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả quản lý, đầu tư và sử dụng vốn nhà nước, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp tổ chức lại nguồn lực và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Tuy nhiên, quá trình này cần được nhìn nhận trong trung và dài hạn. ABS lưu ý, dư địa thoái vốn lớn không đồng nghĩa toàn bộ phần vốn vượt ngưỡng tối thiểu sẽ được bán ngay. Hiệu ứng thực tế còn phụ thuộc vào kế hoạch của từng cơ quan đại diện chủ sở hữu, phương án tái cơ cấu và tiến độ triển khai.
Đây cũng là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm quá trình cơ cấu vốn được tiến hành thận trọng, đúng mục tiêu, không đồng nhất cơ cấu lại với thoái vốn bằng mọi giá. Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg xác định tiêu chí phân loại là căn cứ để phê duyệt kế hoạch và thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước theo Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12/2/2026 của Chính phủ và các quy định có liên quan. Các hình thức thực hiện có thể bao gồm tiếp tục giữ nguyên tỷ lệ vốn nhà nước hoặc cơ cấu lại theo các hình thức làm thay đổi tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp của Nhà nước theo quy định.
Đặc biệt, Quyết định yêu cầu việc phê duyệt kế hoạch và thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hướng tới tăng cường hiệu quả kinh doanh, năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp; bảo đảm hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước; phòng, chống dàn trải, lãng phí, thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước.
Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg được ban hành tạo thêm nền tảng để quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước đi vào chiều sâu, gắn chặt hơn giữa cơ cấu sở hữu với hiệu quả sử dụng vốn và năng lực phát triển của doanh nghiệp. Việc triển khai đồng bộ, công khai, minh bạch, đúng quy định sẽ là yếu tố quan trọng để nguồn lực Nhà nước được sử dụng đúng trọng tâm, bảo toàn và phát triển, đồng thời tạo thêm không gian để doanh nghiệp phát huy năng lực, đóng góp hiệu quả hơn cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.









