• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

GS.TS Mạc Quốc Anh: Giảm thuế để doanh nghiệp nhỏ có thêm nguồn lực đầu tư và lớn lên

Cuối tháng 8 vừa qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 43/2026 về giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cá nhân và doanh nghiệp. Theo Nghị quyết, doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027.

Đây là nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ nhất trong nền kinh tế, năng lực tích lũy hạn chế và thường chịu tác động mạnh hơn khi thị trường biến động.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội khẳng định: Việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 43 ở thời điểm này rất kịp thời, thể hiện rõ tinh thần Nhà nước đồng hành với người dân và doanh nghiệp trong giai đoạn nền kinh tế đang cần củng cố sức chống chịu, thúc đẩy đầu tư và tạo thêm động lực tăng trưởng.

Chính sách giảm thuế kịp thời

+ Thưa GS.TS Mạc Quốc Anh, việc Quốc hội thông qua chính sách giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027 sẽ tác động như thế nào đến hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa?

- Theo tôi, tác động đầu tiên và trực tiếp nhất là tăng khả năng tích lũy và cải thiện dòng tiền cho doanh nghiệp.

Đối với doanh nghiệp lớn, một khoản thuế được giảm có thể chỉ chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng nguồn vốn. Nhưng đối với doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp nhỏ, mỗi khoản chi phí tiết kiệm được đều có ý nghĩa rất lớn.

Đó có thể là nguồn lực để trả lương cho người lao động, mua thêm nguyên vật liệu, đầu tư một máy móc mới, triển khai phần mềm quản trị, mở thêm điểm bán hàng hoặc bổ sung vốn lưu động.

Về mặt kinh tế học, giảm thuế không chỉ đơn thuần là Nhà nước giảm một khoản thu ngân sách, đó còn là chuyển một phần nguồn lực từ khu vực Nhà nước trở lại khu vực sản xuất, kinh doanh trong một giai đoạn nhất định để kích thích đầu tư và tổng cầu.

Nếu doanh nghiệp sử dụng phần thuế được giảm để tái đầu tư, nguồn lực đó sẽ tiếp tục vận động trong nền kinh tế. Cụ thể, doanh nghiệp mua hàng của doanh nghiệp khác, tuyển thêm lao động, trả thêm tiền lương, mở rộng sản xuất, tạo thêm doanh thu. Từ một đồng thuế được giảm ban đầu có thể hình thành một chuỗi giá trị và tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn hơn.

Điều này đặc biệt quan trọng bởi doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp của Việt Nam. Đây là khu vực đông đảo nhất nhưng cũng dễ bị tổn thương nhất trước những biến động về vốn, thị trường, chi phí đầu vào và sức mua.

Qua thực tiễn tiếp xúc với cộng đồng doanh nghiệp, tôi nhận thấy vấn đề lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ hiện nay không hẳn là thiếu ý tưởng kinh doanh, mà là thiếu nguồn lực để biến cơ hội thành tăng trưởng.

Nhiều doanh nghiệp có đơn hàng nhưng thiếu vốn lưu động; muốn đầu tư công nghệ nhưng e ngại thời gian hoàn vốn; muốn tuyển người nhưng phải cân đối rất kỹ chi phí.

Vì vậy, giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp có ý nghĩa như một khoản “vốn tự có bổ sung” mà doanh nghiệp không phải vay ngân hàng và không phải trả lãi.

Tôi cũng cho rằng chính sách còn tạo ra một tác động quan trọng hơn về mặt tâm lý, đó là củng cố niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh. Khi doanh nghiệp thấy chính sách được ban hành đúng thời điểm, đúng đối tượng và có thể tiếp cận đơn giản, họ sẽ mạnh dạn đầu tư hơn.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hiệu quả của chính sách không nên chỉ đánh giá bằng số tiền thuế đã giảm, mà cần đánh giá bằng số doanh nghiệp duy trì được hoạt động, số việc làm được giữ lại, số vốn đầu tư tăng thêm và mức tăng doanh thu sau khi được hỗ trợ.

1783429093883-2380834737421104935-2380834737421104935-2c6f622df267b80a844dcd0c8ff94eee.jpg

GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội. Ảnh: NVCC.

+ Việc giảm thuế sẽ tác động thế nào tới dòng thu ngân sách trong ngắn hạn, thưa Giáo sư?

- Trong ngắn hạn, chắc chắn ngân sách nhà nước sẽ giảm một phần thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là hệ quả trực tiếp của chính sách và chúng ta cần nhìn nhận một cách minh bạch.

Nhưng theo tôi, không nên chỉ nhìn bài toán ngân sách theo phương pháp “tĩnh”, tức là hôm nay giảm bao nhiêu thuế, thì ngân sách mất đi đúng từng ấy.

Điều quan trọng hơn là phải nhìn bằng tư duy ngân sách “động”.

Một doanh nghiệp được giảm thuế hôm nay nhưng nhờ đó tồn tại, phát triển và tăng doanh thu trong hai, ba hoặc năm năm tới có thể đóng góp cho ngân sách lớn hơn rất nhiều so với khoản thuế đã được giảm.

Khi doanh nghiệp mở rộng sản xuất, Nhà nước không chỉ tăng thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp mà còn tạo thêm việc làm, thu nhập cho người lao động. Thu nhập tăng sẽ thúc đẩy tiêu dùng, kéo theo sự gia tăng các giao dịch hàng hóa, dịch vụ, qua đó mở rộng cơ sở thu và tạo thêm nguồn thu từ nhiều sắc thuế khác.

Chúng ta cần phân biệt rất rõ giữa “giảm thuế suất, giảm nghĩa vụ thuế” và “giảm nguồn thu bền vững của ngân sách”. Hai vấn đề này không hoàn toàn đồng nhất.

Một nền kinh tế có hàng triệu doanh nghiệp khỏe mạnh, có lợi nhuận và tự giác tuân thủ thuế chắc chắn sẽ tạo ra nguồn thu ngân sách tốt hơn một nền kinh tế mà doanh nghiệp phải đóng thuế cao nhưng không dám đầu tư, không tăng trưởng hoặc phải rời thị trường.

Vì vậy, tôi nhìn nhận khoản giảm thu trong hai năm 2026-2027 như một dạng đầu tư chính sách của Nhà nước cho năng lực sản xuất tương lai.

Tuy nhiên, hiệu ứng này không tự động xảy ra. Muốn giảm thuế hôm nay chuyển thành tăng thu ngân sách ngày mai thì đồng thời phải tháo gỡ được ba điểm nghẽn là vốn, thị trường và thủ tục.

Nếu doanh nghiệp được giảm vài chục triệu đồng tiền thuế nhưng vẫn không tiếp cận được tín dụng, không có thị trường đầu ra hoặc mất quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính thì hiệu quả kích thích sẽ hạn chế.

Chính sách thuế vì vậy phải nằm trong một hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp tổng thể, chứ không nên là một chính sách đơn lẻ.

Chính sách thuế cần tạo động lực để doanh nghiệp lớn lên

+ Ở thời điểm hiện nay, những loại thuế, phí hoặc khoản chi phí nào đang tạo áp lực lớn nhất đối với doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, thưa Giáo sư?

- Qua thực tế hoạt động của doanh nghiệp, tôi cho rằng áp lực hiện nay không đến từ một sắc thuế riêng lẻ, mà nằm ở tổng chi phí kinh doanh mà doanh nghiệp phải gánh.

Doanh nghiệp phải đồng thời cân đối rất nhiều khoản như chi phí vốn, thuê mặt bằng, tiền lương và bảo hiểm xã hội, logistics, điện năng, nguyên vật liệu, công nghệ, cùng các chi phí liên quan đến kế toán, thuế và tuân thủ pháp luật. Khi những khoản chi phí này cùng tăng, áp lực lên dòng tiền và khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh sẽ lớn hơn.

Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ chịu ảnh hưởng rõ hơn bởi các khoản chi phí cố định. Một doanh nghiệp chỉ có vài chục lao động vẫn phải thực hiện nhiều yêu cầu về kế toán, thuế, pháp lý, môi trường, phòng cháy chữa cháy... nhưng không có điều kiện xây dựng một bộ máy chuyên trách như các doanh nghiệp lớn.

Vì vậy, tính trên mỗi đồng doanh thu, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp nhỏ thường cao hơn.

Do đó, tôi cho rằng Chính phủ nên tiếp tục thực hiện quyết liệt nguyên tắc, không chỉ giảm thuế mà phải giảm tổng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

+ Nếu được kiến nghị một chính sách ưu tiên với cơ quan quản lý, ông mong muốn điều chỉnh hoặc giảm khoản nào để hỗ trợ doanh nghiệp tốt hơn?

Nếu được lựa chọn một chính sách ưu tiên, tôi kiến nghị nghiên cứu sâu hơn cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tái đầu tư bằng thuế thu nhập doanh nghiệp.

Ví dụ, phần lợi nhuận doanh nghiệp thực sự tái đầu tư cho máy móc, công nghệ, chuyển đổi số, nghiên cứu và phát triển, đào tạo lao động, chuyển đổi xanh hoặc mở rộng năng lực sản xuất có thể được hưởng mức khấu trừ hoặc ưu đãi thuế cao hơn. Như vậy, chúng ta chuyển từ tư duy “giảm thuế vì doanh nghiệp nhỏ” sang “giảm thuế để doanh nghiệp đầu tư và lớn lên”.

Tôi cho rằng đây là khác biệt rất quan trọng. Bởi, chính sách tốt nhất không phải là giúp doanh nghiệp mãi mãi ở quy mô nhỏ để được ưu đãi, mà phải giúp doanh nghiệp nhỏ hôm nay trở thành doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn trong tương lai.

Sau hai năm thực hiện, cần trả lời được, bao nhiêu doanh nghiệp được hưởng lợi; bao nhiêu doanh nghiệp tăng doanh thu; bao nhiêu doanh nghiệp chuyển từ siêu nhỏ lên nhỏ, từ nhỏ lên vừa; bao nhiêu việc làm mới được tạo ra; năng suất và mức đầu tư công nghệ tăng bao nhiêu.

Theo tôi, đó mới là thước đo thực sự của một chính sách thuế thành công.

Tôi rất ủng hộ Nghị quyết số 43/2026, bởi đây không chỉ là câu chuyện giảm 30% số thuế phải nộp. Quan trọng hơn, nó truyền đi một thông điệp rằng Nhà nước sẵn sàng chia sẻ nguồn lực với doanh nghiệp để nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài và phát triển khu vực kinh tế tư nhân.

Nhưng trong giai đoạn tới, chính sách cần tiến thêm một bước: Từ “hỗ trợ doanh nghiệp tồn tại” sang “tạo động lực để doanh nghiệp lớn lên”.

Một chính sách thuế tiến bộ phải tạo ra một tín hiệu rất rõ ràng cho thị trường, doanh nghiệp càng đầu tư thực chất, càng đổi mới sáng tạo, càng tạo nhiều việc làm, càng minh bạch và càng nâng cao năng suất thì càng được khuyến khích phát triển.

Nếu làm được điều đó, chúng ta không chỉ giải quyết khó khăn của doanh nghiệp trong năm 2026 hay 2027, mà còn tạo dựng được một lực lượng doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh cao hơn, đóng góp lớn hơn cho ngân sách và trở thành một trong những động lực quan trọng nhất cho mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

+ Xin cảm ơn ông!


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết