Đổi mới chính sách hỗ trợ đầu tư, tăng liên kết FDI với doanh nghiệp Việt
Nhằm thể chế hóa các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính đã xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo là hoàn thiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo hướng đổi mới phương thức thu hút và nâng cao hiệu quả của dòng vốn đầu tư nước ngoài.
![]() |
| Nhằm thể chế hóa các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính đã xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Ảnh: Lê Toàn |
Chuyển từ ưu đãi truyền thống sang hỗ trợ theo kết quả
Nhằm thể chế hóa các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính đã xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư. Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo là hoàn thiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo hướng đổi mới phương thức thu hút và nâng cao hiệu quả của dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Theo đó, dự thảo bổ sung 4 hình thức hỗ trợ đầu tư gồm hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng; hỗ trợ sản xuất sản phẩm, cải tiến sản phẩm, cải tiến công nghệ; hỗ trợ đầu tư ban đầu và đầu tư tạo tài sản cố định; hỗ trợ hợp tác, liên kết giữa doanh nghiệp với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ.
Việc bổ sung các hình thức hỗ trợ này nhằm thể chế hóa quan điểm đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động của dự án, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là định hướng được đặt ra tại Nghị quyết số 10-NQ/TW và Kết luận số 18-KL/TW về đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi sau - ưu đãi theo kết quả.
Thực tiễn thi hành Luật Đầu tư năm 2025 và Nghị định số 182/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ về thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ Hỗ trợ đầu tư cho thấy, các hình thức ưu đãi thuế truyền thống ngày càng giảm hiệu lực trước tác động của Thuế tối thiểu toàn cầu, trong khi các hình thức hỗ trợ hiện hành chưa bao quát hết những trường hợp phát sinh trong thực tiễn.
Kinh nghiệm của một số nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số quốc gia trong khu vực như Malaysia, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc... cho thấy, các quốc gia đều đã ban hành cơ chế hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp thay thế cho các ưu đãi thuế truyền thống. Trong đó, có các cơ chế, chương trình hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp từ ngân sách nhà nước như: chi phí hợp tác, đặt hàng hoặc đối ứng kinh phí R&D với các viện, trường và tổ chức nghiên cứu trong nước; chi phí nhân sự, đào tạo nhà nghiên cứu, kỹ sư; chi phí trang thiết bị, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, lương và học phí cho nghiên cứu sinh, phát triển nhà cung ứng, chi phí tạo tài sản cố định...
Do đó, tại dự thảo lần này, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung các hình thức hỗ trợ đầu tư mới làm cơ sở cụ thể hóa cơ chế hỗ trợ chi phí, đồng thời hướng chính sách thu hút đầu tư tới những kết quả có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với nền kinh tế.
Đối với ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt, dự thảo sửa đổi, bổ sung 4 nhóm nội dung gồm nguyên tắc áp dụng; đối tượng áp dụng; chính sách hỗ trợ và cơ chế cho phép Chính phủ quyết định gói chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư vượt trội gắn với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư đối với một số dự án cụ thể cần kịp thời thu hút đầu tư, tạo tác động lan tỏa và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung trách nhiệm của nhà đầu tư được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt; nguyên tắc điều chỉnh, thu hồi ưu đãi, hỗ trợ trong trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng cam kết. Việc áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt được xác định có thời hạn và dựa trên kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư; việc đánh giá kết quả phải bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch và thống nhất.
Các cam kết có thể liên quan đến công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, phát triển và đào tạo nhân lực Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Cách tiếp cận này hướng tới việc ưu tiên những dự án thực hiện tốt các cam kết về công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, đào tạo và sử dụng nhân lực Việt Nam, phát triển nhà cung ứng trong nước cũng như sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên và năng lượng.
Hỗ trợ chi phí, thúc đẩy doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng
Cùng với đổi mới nguyên tắc ưu đãi, dự thảo mở rộng phạm vi các dự án, lĩnh vực có thể được hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt. Một số ngành, lĩnh vực cốt lõi được bổ sung gồm các dự án đầu tư trung tâm dịch vụ logistics quốc tế, kho dự trữ năng lượng, dự trữ hàng hóa cho khu vực và quốc tế; đồng thời thống nhất đối tượng áp dụng ưu đãi đầu tư đặc biệt bao gồm cả dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng.
Định hướng này nhằm thu hút các dự án, nhà đầu tư có công nghệ nền tảng, công nghệ lõi, cam kết triển khai hoạt động nghiên cứu, thiết kế, hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu, đầu tư kho dự trữ năng lượng, dự trữ hàng hóa cũng như các trung tâm điều hành, ngân quỹ, mua sắm và dịch vụ dùng chung có khả năng kết nối Việt Nam với mạng sản xuất, mạng dịch vụ và thị trường tài chính khu vực, thế giới.
Một điểm mới khác là dự thảo quy định Nhà nước căn cứ khả năng cân đối ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ có thể hỗ trợ một số nhóm chi phí đối với đầu tư đặc biệt.
Các khoản hỗ trợ gồm đào tạo lao động là người Việt Nam; đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp liên kết với cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ và doanh nghiệp trong nước; nghiên cứu và phát triển; đầu tư công trình hạ tầng xã hội; chi phí sản xuất sản phẩm công nghệ cao; phát triển, nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng do tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp đầu chuỗi lựa chọn, thực hiện; đầu tư tạo tài sản cố định là máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng lợi nhuận chưa chuyển về nước để mở rộng đầu tư tại Việt Nam và các chi phí khác theo quy định của Chính phủ.
Mức hỗ trợ dự kiến căn cứ vào các tiêu chí, điều kiện như quy mô vốn đầu tư, vốn giải ngân, chuyển giao công nghệ, mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng và giá trị sản xuất trong nước. Đối tượng, tiêu chí, điều kiện, mức hỗ trợ cũng như quy trình, thủ tục hỗ trợ chi phí sẽ được Chính phủ quy định.
Trên thực tế hiện nay, một số khoản chi như đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, đầu tư công trình hạ tầng xã hội, sản xuất sản phẩm công nghệ cao và đầu tư tài sản cố định đã được quy định tại Nghị định số 182/2024/NĐ-CP về Quỹ Hỗ trợ đầu tư. Dự thảo bổ sung thêm cơ chế hỗ trợ nhằm thúc đẩy liên kết, lan tỏa giữa khu vực FDI và khu vực kinh tế trong nước, trong đó có hỗ trợ phát triển, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng và hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp liên kết với các cơ sở giáo dục, tổ chức khoa học và công nghệ và doanh nghiệp trong nước.
Các quy định này nhằm khẩn trương thể chế hóa định hướng của Bộ Chính trị nêu tại Nghị quyết 10-NQ/TW về thúc đẩy liên kết, lan tỏa giữa khu vực FDI và khu vực kinh tế trong nước bên cạnh mục tiêu thu hút các dự án công nghệ cao. Từ đó, tạo thêm động lực để doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dành nguồn lực cho hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, đào tạo và phát triển nhà cung ứng trong nước; đồng thời tăng cường liên kết với viện, trường và doanh nghiệp Việt Nam trong nghiên cứu và phát triển, đào tạo và đào tạo lại nhân lực. Qua đó, năng lực và trình độ công nghệ của doanh nghiệp trong nước có thêm điều kiện được nâng cao, tăng khả năng tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa.
Đây là xu hướng hỗ trợ tài chính được OECD khuyến nghị và đang được áp dụng tại một số quốc gia như Singapore, Hàn Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản.
Cơ chế vượt trội cho các dự án đặc biệt quan trọng
Dự thảo lần này cũng đề xuất cơ chế cho phép Chính phủ quyết định các gói chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư vượt trội thuộc thẩm quyền của Chính phủ gắn với kết quả thực hiện cam kết, trong trường hợp cần khuyến khích phát triển dự án đầu tư đặc biệt quan trọng có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội. Trường hợp vượt thẩm quyền, Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Cơ chế này được đề xuất trong bối cảnh một số tập đoàn lớn như LG Chemical, Samsung, Intel, SK từng đề nghị Chính phủ xem xét các gói ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đi kèm cam kết cụ thể về chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam. Việc tổ chức thực hiện các đề nghị này còn gặp vướng mắc do chưa có cơ sở pháp lý phù hợp, trong khi một số dự án công nghệ cao, có tính chiến lược cần được xem xét kịp thời.
Theo đề xuất, gói hỗ trợ vượt trội sẽ gắn với các cam kết về nghiên cứu và phát triển, đào tạo lao động Việt Nam, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng. Nguyên tắc đặt ra là mức hỗ trợ tương xứng với lợi ích kinh tế - xã hội mà dự án thực tế tạo ra, đồng thời bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình trong sử dụng ngân sách nhà nước.
Bên cạnh đó, dự thảo sửa đổi quy định về Quỹ Hỗ trợ đầu tư theo hướng giao Chính phủ quy định chi tiết về mô hình hoạt động, địa vị pháp lý, nguồn ngân sách cấp hằng năm và bổ sung cho Quỹ, đối tượng, tiêu chí, điều kiện, hình thức và mức hỗ trợ, cơ chế hoàn trả chi phí hỗ trợ cùng các chính sách đặc thù khác của Quỹ mà không phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ban hành.
Thực tế, Nghị định số 182/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 về thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ Hỗ trợ đầu tư đã được ban hành trên cơ sở Nghị quyết số 110/2023/QH15 và Quỹ đã được thành lập, đi vào hoạt động.
Việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về Quỹ Hỗ trợ đầu tư, đồng thời bổ sung các hình thức hỗ trợ mới và các khoản chi hỗ trợ được đặt trong tổng thể đổi mới chính sách thu hút FDI. Trọng tâm không chỉ là thu hút thêm vốn đầu tư mà còn hướng tới nâng cao chất lượng dự án, tăng chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng và gia tăng giá trị tạo ra trong nước.
Theo định hướng của dự thảo, đối tượng được hỗ trợ chi phí sẽ tiếp tục được rà soát, quy định cụ thể để phù hợp khả năng cân đối ngân sách nhà nước, tập trung vào những ngành, lĩnh vực có tác động lan tỏa, liên kết thực chất, tạo giá trị gia tăng và nâng cao năng lực, công nghệ, quản trị, tri thức cho khu vực kinh tế trong nước.
Có thể thấy, các đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đang hướng tới một cách tiếp cận mới trong thu hút và sử dụng nguồn lực FDI. Từ chỗ chủ yếu dựa vào ưu đãi, chính sách được thiết kế theo hướng gắn hỗ trợ với những kết quả cụ thể mà dự án mang lại cho nền kinh tế, nhất là về công nghệ, nhân lực, nghiên cứu và phát triển, phát triển doanh nghiệp trong nước và liên kết chuỗi cung ứng. Qua đó, nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước được kỳ vọng được sử dụng có trọng tâm, tạo thêm giá trị trong nước và tăng tính lan tỏa của khu vực FDI đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội.









