Đại biểu Quốc hội hiến kế hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Các đại biểu thống nhất cho rằng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự đồng hành của Quốc hội, sự điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, nền kinh tế đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong bối cảnh còn không ít khó khăn, thách thức.
Tại phiên thảo luận ở hội trường Quốc hội từ chiều 30/10 đến hết sáng 31/10, các đại biểu Quốc hội bày tỏ đồng tình, đánh giá cao những kết quả đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, đồng thời đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết về các giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2027 và giai đoạn tiếp theo.
Các đại biểu thống nhất cho rằng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự đồng hành của Quốc hội, sự điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, nền kinh tế đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong bối cảnh còn không ít khó khăn, thách thức. Những kết quả này góp phần củng cố niềm tin vào khả năng chống chịu và triển vọng phát triển của nền kinh tế.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, các đại biểu đề xuất nhiều giải pháp từ phát huy vai trò đối ngoại, phát triển thị trường vốn, hoàn thiện thể chế đến nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước và giảm chi phí đầu vào cho sản xuất, kinh doanh.
Đưa ngoại giao kinh tế thành đòn bẩy cho tăng trưởng
Đại biểu Phạm Nam Tiến (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng) cho rằng, ngoại giao ngày càng đóng vai trò đòn bẩy trực tiếp cho kinh tế, khi các cam kết chính trị cấp cao được chuyển hóa thành những kết quả cụ thể.
Đại biểu nêu một số kết quả nổi bật như kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt ngưỡng lịch sử 1.000 tỷ USD; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký đạt trên 50 tỷ USD, tăng hơn 76%, mức cao nhất kể từ năm 2021; du lịch và dịch vụ bứt phá với trên 17 triệu lượt khách quốc tế.
Bên cạnh đó, Moody's nâng triển vọng tín nhiệm quốc gia lên mức tích cực. Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam tiếp tục cải thiện, trong đó Việt Nam vươn lên dẫn đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao và sáng tạo.
Theo đại biểu, những kết quả này cho thấy công tác đối ngoại đã góp phần thu hút nguồn lực, công nghệ, mở rộng thị trường, giải tỏa áp lực từ bên ngoài, tạo thêm thế và lực cho phát triển kinh tế.
![]() |
| Đại biểu Phạm Nam Tiến (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng). Ảnh: VPQH |
Bước sang năm 2027, khi mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên được đặt ra, đại biểu Phạm Nam Tiến đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm về đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Trước hết, tạo đột phá ngoại giao công nghệ, mở đường cho mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo. Theo đại biểu, khi khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực tăng trưởng chính, ngoại giao công nghệ cần được xem là mặt trận ưu tiên hàng đầu.
Bên cạnh đó, cần chủ động đa dạng hóa chuỗi cung ứng và mở rộng thị trường tiêu thụ. Đây là giải pháp nhằm tăng khả năng thích ứng của nền kinh tế trước những biến động bên ngoài, đồng thời mở rộng dư địa cho hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường quốc tế. Đại biểu cũng đề nghị thu hút nguồn vốn chất lượng cao và phát triển mạnh các trung tâm tài chính, qua đó nâng cao khả năng huy động, phân bổ nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế.
Cùng với đó, cần chuẩn bị và tổ chức thành công Năm APEC 2027. Đại biểu nhấn mạnh, sau 10 năm kể từ APEC 2017, Việt Nam một lần nữa đảm nhận trọng trách chủ nhà của diễn đàn kinh tế hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi quy tụ các nền kinh tế chiếm khoảng 60% GDP và gần 50% thương mại toàn cầu.
“Đây không chỉ là sự kiện đối ngoại đơn thuần mà phải được xác định là cú hích kinh tế mang tính bước ngoặt”, đại biểu Phạm Nam Tiến nhấn mạnh.
Theo đó, việc tổ chức APEC 2027 cần được gắn với mục tiêu quảng bá hình ảnh quốc gia, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và tạo thêm cơ hội kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác quốc tế.
Cuối cùng, đại biểu Phạm Nam Tiến đề nghị đổi mới tư duy, nâng cao năng lực thực thi và phối hợp liên ngành. Đại biểu đề nghị công tác đối ngoại phải lấy người dân, doanh nghiệp và địa phương làm trung tâm phục vụ. Mạng lưới cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần nâng cao tính nhạy bén, năng lực dự báo biến động thị trường, đồng thời trở thành cầu nối xúc tiến thương mại và đầu tư thực chất.
Đặc biệt, đại biểu lưu ý, cần nâng cao kỷ luật thực thi, kiên quyết khắc phục tâm lý trông chờ, đùn đẩy trách nhiệm; tăng cường liên thông dữ liệu và chủ động xử lý ngay những vướng mắc của đối tác quốc tế.
Đồng thời, điều quan trọng là phải bảo đảm các dòng vốn và cam kết hợp tác sớm được chuyển hóa thành kết quả thực tế, giải ngân vào nền kinh tế, qua đó đóng góp trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2027 và giai đoạn tiếp theo.
Mở “đường dẫn vốn”, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn
Đại biểu Lê Hoàng Anh (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai) nhấn mạnh: “Không thể đi đường dài bằng nguồn vốn ngắn hạn”.
Từ yêu cầu phát triển thị trường vốn và củng cố niềm tin thể chế, đại biểu Lê Hoàng Anh đề xuất “mở 3 đường dẫn vốn”.
Trước hết, cụ thể hóa chủ trương cho vay dựa trên dữ liệu dòng tiền theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW. Theo đó, khi doanh nghiệp đồng ý, ngân hàng có thể sử dụng dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu thuế, dữ liệu xuất nhập khẩu làm cơ sở đánh giá năng lực tài chính và khả năng trả nợ, thay vì chủ yếu dựa vào tài sản bảo đảm là đất đai.
Giải pháp này được kỳ vọng giúp doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh và dòng tiền tốt nhưng hạn chế về tài sản thế chấp, tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn.
![]() |
| Đại biểu Lê Hoàng Anh (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai). Ảnh: VPQH |
Thứ hai, đại biểu cho rằng, cần có cơ chế giữ vốn chủ sở hữu và giá trị doanh nghiệp ở lại trong nước. Đại biểu đề cập Nghị quyết số 222/2025/QH15 đã cho phép doanh nghiệp thành lập công ty holding tại trung tâm tài chính quốc tế, đồng thời đề nghị Chính phủ sớm ban hành cơ chế để công ty mẹ tại trung tâm tài chính quốc tế có thể đầu tư thông suốt về trong nước. Cùng với đó, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp đưa công ty mẹ từ nước ngoài về Việt Nam với chi phí thuế hợp lý.
Đại biểu cũng đề nghị sớm vận hành thực chất Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia theo hướng góp vốn mồi vào các quỹ tư nhân chuyên nghiệp; đồng thời trao cho nhà đầu tư tư nhân quyền mua lại phần vốn nhà nước khi hoạt động đầu tư thành công.
Giải pháp thứ ba được đại biểu đề nghị là kết nối nguồn tiết kiệm trong dân với nhu cầu vốn của doanh nghiệp thông qua phát triển các quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ mở và nghiên cứu thí điểm chứng chỉ vàng. Đây là những kênh có thể góp phần chuyển hóa nguồn tiết kiệm đang nằm trong dân thành nguồn vốn đầu tư dài hạn, đồng thời đa dạng hóa các lựa chọn đầu tư và giảm áp lực phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Bên cạnh 3 nhóm giải pháp trên, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung các chỉ tiêu theo dõi quy mô trái phiếu doanh nghiệp so với GDP và tỷ lệ tiết kiệm của người dân được đưa vào các định chế đầu tư.
Theo đại biểu, việc bổ sung những chỉ tiêu này sẽ giúp theo dõi sát hơn mức độ phát triển của thị trường vốn, khả năng huy động nguồn lực xã hội và hiệu quả chuyển hóa tiết kiệm thành đầu tư.
Đại biểu Lê Hoàng Anh nhấn mạnh, mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ cần quyết tâm chính trị mà còn đòi hỏi nền tảng nguồn vốn dài hạn và niềm tin dài hạn.
“Tăng trưởng 2 con số bắt đầu từ quyết tâm, nhưng chỉ bền vững khi được nuôi bằng vốn dài hạn và niềm tin dài hạn. Doanh nghiệp của người Việt, vốn của người Việt thì giá trị gia tăng phải ở lại Việt Nam”, đại biểu Hoàng Anh nói.
Thể chế phải thực sự trở thành động lực phát triển
Đại biểu Lã Thanh Tân (Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hải Phòng) cho rằng, một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển trong giai đoạn tới là làm thế nào để thể chế thực sự trở thành động lực phát triển.
“Một nền kinh tế có thể có nhiều tiềm năng, có nguồn lực, có doanh nghiệp và có khát vọng vươn lên, nhưng những tiềm năng ấy có được chuyển hóa thành tăng trưởng hay không, có nguồn lực có được khơi thông hay không phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của thể chế”, đại biểu nhấn mạnh.
Từ đó, đại biểu đề nghị triển khai nhiệm vụ hoàn thiện thể chế năm 2027 trong tổng thể thực hiện Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam. Đây là cơ hội để tạo ra bước chuyển căn bản về chất lượng thể chế.
Đề xuất thứ nhất của đại biểu Lã Thanh Tân là phải chuyển từ tư duy sửa từng quy định sang tư duy xử lý những điểm nghẽn của cả hệ thống pháp luật. Dẫn báo cáo thẩm tra cho biết cả nước đã rà soát 45.793 văn bản quy phạm pháp luật, với hàng nghìn văn bản được kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ, đại biểu đánh giá đây là nỗ lực rất lớn của Chính phủ.
Theo đại biểu, thực tế, nhiều điểm nghẽn trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh không xuất phát từ một điều luật riêng lẻ mà thường nằm ở mối quan hệ giữa nhiều luật, nhiều cơ quan và nhiều công đoạn của một quy trình.
Đại biểu dẫn chứng, một dự án có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật về quy hoạch, đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường và kinh doanh bất động sản. Chỉ cần một khâu thiếu thống nhất, toàn bộ quá trình có thể bị đình trệ.
Vì vậy, đại biểu Lã Thanh Tân đề nghị Chính phủ chỉ đạo tổ chức rà soát theo các chuỗi quan hệ pháp lý liên ngành, lựa chọn những lĩnh vực đang có tác động lớn đến việc huy động nguồn lực và tăng trưởng để xử lý trước. Đối với mỗi nhóm vấn đề, cần xác định rõ quy định bất cập, nguyên nhân, phương án xử lý, cơ quan chịu trách nhiệm và thời gian hoàn thành.
Đặc biệt, cần triển khai thực chất định hướng của Kết luận 09-KL/TW về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật. Theo đó, có những lĩnh vực cần giữ các luật chuyên ngành độc lập nhưng phải làm rõ ranh giới điều chỉnh và mối quan hệ giữa các luật; có những lĩnh vực cần sửa đổi đồng bộ, cũng có thể có những nhóm quy định đủ điều kiện để nghiên cứu tích hợp, hợp nhất.
Cách tiếp cận này, theo đại biểu, sẽ góp phần khắc phục sự phân mảnh, chồng chéo, đồng thời bảo đảm tính ổn định, dễ hiểu và dễ thực hiện của pháp luật.
![]() |
| Đại biểu Lã Thanh Tân (Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hải Phòng). Ảnh: VPQH |
Đề xuất thứ hai, đại biểu Lã Thanh Tân cho rằng cần chuyển sang tư duy kiến tạo pháp lý cho động lực phát triển. Theo đại biểu, trí tuệ nhân tạo, kinh tế dữ liệu, công nghệ số và các mô hình kinh doanh mới đang làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh giữa các quốc gia.
Trong bối cảnh đó, nếu pháp luật chỉ phản ứng sau khi thực tiễn đã phát sinh đầy đủ vấn đề thì Việt Nam có nguy cơ bỏ lỡ cơ hội phát triển. Đại biểu đề nghị Chính phủ chủ động nhận diện những lĩnh vực có tiềm năng trở thành động lực tăng trưởng mới để xây dựng khuôn khổ pháp lý từ sớm.
“Pháp luật phải mở ra cho không gian đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, kiểm soát được rủi ro, nhưng cũng phải đủ linh hoạt để những mô hình mới có cơ hội hình thành và phát triển”, đại biểu Lã Thanh Tân nêu rõ.
Đối với những lĩnh vực chưa có đủ cơ sở thực tiễn để quy định đầy đủ, cần nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, xác định rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm, giám sát và giới hạn rủi ro. Cùng với đó, đại biểu lưu ý cần nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách, nhất là tác động đến chi phí tuân thủ, khả năng gia nhập thị trường và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đề xuất thứ ba, đại biểu Lã Thanh Tân nhấn mạnh yêu cầu chuyển sang tư duy chịu trách nhiệm về kết quả thực thi pháp luật.
Theo đại biểu, một chính sách dù được thiết kế tốt vẫn có thể không đạt mục tiêu nếu thiếu nguồn lực, thiếu hướng dẫn hoặc thiếu sự phối hợp trong tổ chức thực hiện. Khoảng cách giữa quy định trên văn bản và thực hiện ở cơ sở có thể làm giảm đáng kể hiệu quả của chính sách.
Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ gắn trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo với toàn bộ vòng đời của chính sách, từ đánh giá tác động, tổ chức thực hiện đến kiểm tra và đánh giá sau ban hành.
Đối với việc phân cấp, phân quyền, đại biểu lưu ý cần bảo đảm thẩm quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực, nhân lực và điều kiện thực hiện. Khi ban hành quy định mới, phải tính đến khả năng thực thi của chính quyền địa phương cũng như chi phí tuân thủ của người dân và doanh nghiệp.
Đáng chú ý, đại biểu đề nghị xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả thể chế bằng những chỉ tiêu cụ thể, có thể đo lường được. Trong đó, cần làm rõ thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính giảm bao nhiêu; bao nhiêu điểm nghẽn pháp lý được xử lý; bao nhiêu dự án, nguồn lực được khơi thông; mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp được cải thiện như thế nào.
Đại biểu Lã Thanh Tân nhấn mạnh: “Một hệ thống pháp luật tốt phải giúp người dân dễ thực hiện quyền của mình. Khi pháp luật thực sự đáp ứng được yêu cầu này, thể chế sẽ trở thành nguồn lực, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển của đất nước”.
Nâng năng lực doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Đại biểu Phạm Hùng Thắng (Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình) đánh giá, trước dự báo năm 2027 nền kinh tế tiếp tục đối diện nhiều khó khăn, thách thức từ cả yếu tố bên ngoài và nội tại, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tăng trưởng cao mà còn phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, tính tự chủ và sức chịu đựng của nền kinh tế.
Từ góc độ đó, đại biểu kiến nghị Chính phủ quan tâm nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, qua đó tạo ra và giữ lại nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế đất nước.
Theo đại biểu, các Nghị quyết số 68-NQ/TW, 57-NQ/TW và Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước, tăng cường liên kết và thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
Vấn đề quan trọng là phải cụ thể hóa các mục tiêu này thành kết quả có thể đo đếm được. Trong đó, cần tăng số doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; cải thiện năng lực khoa học, công nghệ và giữ lại nhiều hơn giá trị gia tăng trong nước. Đại biểu đề nghị chuyển cách đánh giá kết quả thu hút đầu tư từ số lượng dự án, quy mô vốn sang chất lượng liên kết và mức độ lan tỏa đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Dẫn số liệu báo cáo của Chính phủ, đại biểu cho biết 9 tháng năm 2026, xuất khẩu tăng 24,5%, trong khi nhập khẩu tăng 36,7%. Khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu lớn, còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu. Mặc dù nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất là cần thiết, nhưng sự chênh lệch này cho thấy yêu cầu phải nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm và khả năng tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp nội địa.
Theo đại biểu, điểm nghẽn hiện nay là nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp đầu chuỗi về công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật và khả năng giao hàng ổn định.
Vì vậy, hiệu quả các chương trình hỗ trợ không chỉ đo bằng số lượng lớp tập huấn, đơn hàng kết nối hay dự án được cấp phép, mà phải đánh giá bằng việc doanh nghiệp có trở thành nhà cung ứng với hợp đồng ổn định và nâng cao được giá trị gia tăng hay không.
Đại biểu cũng lưu ý không thể đồng nhất sự hiện diện của các tập đoàn kinh tế lớn với hiệu quả chuyển giao công nghệ. Nếu doanh nghiệp trong nước chỉ tham gia gia công đơn giản, trong khi thiết kế, vật liệu, linh kiện quan trọng và kỹ thuật cao vẫn phụ thuộc vào bên ngoài, thì giá trị xuất khẩu tăng cũng không đồng nghĩa với năng lực tự chủ của nền kinh tế được nâng lên tương ứng.
![]() |
| Đại biểu Phạm Hùng Thắng (Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình). Ảnh: VPQH |
Đề cập đến các chính sách đang được triển khai, đại biểu cho biết Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các quyết định phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 và Đề án thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài đến năm 2030. Quốc hội cũng đang xem xét nhiều dự án luật, trong đó có các quy định nhằm hỗ trợ, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và thúc đẩy tham gia chuỗi giá trị cung ứng.
Đại biểu nhấn mạnh, bước tiếp theo cần thiết là sớm cụ thể hóa, kết nối các chính sách này với nhu cầu thực tiễn và tổ chức thực hiện thống nhất, hiệu quả.
Đại biểu đề nghị việc hỗ trợ doanh nghiệp phải xuất phát từ nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện lựa chọn nhà cung ứng của doanh nghiệp dẫn dắt, trong đó có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở đánh giá năng lực doanh nghiệp Việt Nam, Nhà nước cần hỗ trợ đúng những khâu còn thiếu và yếu như thử nghiệm, chứng nhận chất lượng, cải tiến quy trình, đào tạo nhân lực và đổi mới thiết bị.
Vai trò của Nhà nước là kết nối, hỗ trợ giảm chi phí để doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng; quyết định mua bán vẫn thuộc về các doanh nghiệp, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng và phù hợp thông lệ quốc tế.
Đặc biệt, đại biểu đề nghị Chính phủ tập trung triển khai các nhiệm vụ tại Nghị quyết số 280/NQ-CP về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị gắn với Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ và Đề án thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài đến năm 2030.
Mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp 1 cần được cụ thể hóa thành chỉ tiêu hằng năm.
Riêng năm 2027, đại biểu đề nghị lựa chọn một số ngành, nhóm sản phẩm có tiềm năng liên kết; xác định doanh nghiệp dẫn dắt có nhu cầu mua hàng và doanh nghiệp Việt Nam có triển vọng để xây dựng lộ trình hỗ trợ từng bước tham gia chuỗi với vai trò nhà cung ứng cấp 1, cấp 2.
“Tăng trưởng kinh tế bền vững khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng, tham gia sâu hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này cũng cần là thước đo quan trọng khi đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027”, đại biểu nhấn mạnh.
Chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng
Đại biểu Lê Văn Thế (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình) cho rằng, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2027, điều quan trọng không chỉ là huy động thêm vốn mà phải chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng và lợi ích cho người dân, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo phương án dự toán Chính phủ trình Quốc hội, chi đầu tư phát triển năm 2027 dự kiến khoảng 1,76 triệu tỷ đồng, tăng gần 57% so với dự toán năm 2026. Cùng với vốn tín dụng, đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài, đây là nguồn lực lớn cho tăng trưởng.
Đại biểu đề nghị cụ thể hóa việc đánh giá hiệu quả sau đầu tư theo từng loại dự án, kể cả tác động đến việc làm và đời sống nhân dân. Theo đó, chuyển trọng tâm đánh giá đầu tư từ tỷ lệ giải ngân sang công trình đưa vào khai thác và năng lực sản xuất mới.
![]() |
| Đại biểu Lê Văn Thế (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình). Ảnh: VPQH |
Đối với đầu tư nước ngoài, đại biểu đề nghị quan tâm mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng, chuyển giao công nghệ và chất lượng việc làm. Đối với khoa học công nghệ, cần đánh giá kết quả nghiên cứu được ứng dụng, thương mại hóa và đóng góp thực tế cho năng suất.
Đại biểu Lê Văn Thế cũng đề nghị hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường tiếp nhận và làm chủ công nghệ. Cùng với đó, tháo gỡ vướng mắc theo thẩm quyền trong ứng dụng, mua sắm và thử nghiệm có kiểm soát các giải pháp công nghệ mới, giúp kết quả nghiên cứu sớm đi vào sản xuất, kinh doanh.
Đại biểu kiến nghị Chính phủ cụ thể hóa trong công tác theo dõi, điều hành năm 2027 một số chỉ số về chất lượng chuyển hóa nguồn lực, năng suất, năng lực sản xuất mới, giá trị gia tăng, mức độ tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước và kết quả thương mại hóa khoa học công nghệ.
Nhấn mạnh yêu cầu tăng trưởng nhanh phải gắn với hiệu quả sử dụng vốn và giảm chi phí thời gian, đại biểu Lê Văn Thế cho rằng, thành quả tăng trưởng cần được chuyển hóa thành việc làm có chất lượng, thu nhập tốt hơn và đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện.
Giảm chi phí vốn, vật liệu, năng lượng để thúc đẩy tăng trưởng
Đại biểu Nguyễn Cao Sơn (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ) kiến nghị 4 nhóm giải pháp nhằm giảm chi phí, khơi thông đầu tư, giữ vững mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026-2027.
Về vốn, đại biểu cho biết, doanh nghiệp vẫn chịu sức ép lớn từ chi phí và thị trường có sức mua yếu, nhiều đơn vị không có nguồn tiền để triển khai dự án và sản xuất.
Đại biểu đề nghị Ngân hàng Nhà nước khẩn trương chỉ đạo các ngân hàng thương mại kéo dài, mở rộng cơ chế cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ đến hết năm 2027 đối với doanh nghiệp gặp khó khăn do thị trường, sử dụng vốn đúng mục đích và có phương án phục hồi khả thi.
Đồng thời, mở rộng quy mô, đối tượng của chương trình tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, người thuê, mua nhà ở xã hội; giảm phí bảo lãnh dự thầu, phí thực hiện hợp đồng và phí trả nợ trước hạn.
Đối với nghĩa vụ bảo lãnh, khi nghĩa vụ bảo lãnh giảm theo xác nhận của các bên, cần giải tỏa ký quỹ tương ứng. Đại biểu đề nghị hoàn thành hướng dẫn trong quý I/2027.
Về chi phí đầu tư xây dựng, đại biểu cho biết, giá vật liệu, nhân công, nhiên liệu tăng đột biến, trong khi nhiều công trình trọng điểm triển khai cùng lúc khiến nhà thầu gặp khó. Đại biểu đề nghị Chính phủ ban hành cơ chế điều chỉnh đơn giá hợp đồng xây lắp đầu tư công ký trước ngày 1/7/2026 theo hướng chia sẻ rủi ro giữa ngân sách và nhà thầu.
Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện Luật Địa chất và khoáng sản theo hướng đưa đất thông thường chỉ phù hợp làm vật liệu san lấp, đắp nền ra khỏi danh mục khoáng sản nhóm 4, quản lý theo pháp luật về xây dựng bằng cơ chế chấp thuận phương án khai thác có điều kiện.
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Cao Sơn (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ). Ảnh: VPQH |
Việc quản lý cần kiểm soát chặt vị trí, khối lượng, cao độ và nghĩa vụ hoàn thổ, vừa bảo đảm nguồn cung, vừa bảo đảm quản lý tài nguyên và môi trường.
Đại biểu cũng đề nghị chỉ đạo xử lý dứt điểm thủ tục thăm dò, cấp phép khai thác và nâng công suất khai thác đối với các mỏ cát, mỏ đá làm vật liệu thông thường đã có trong quy hoạch.
Về chi phí năng lượng, đại biểu đồng tình với chủ trương giảm giá điện để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp; đồng thời đề nghị giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng các loại về 0%, kéo dài hỗ trợ thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng đối với dầu diesel, đồng bộ thời gian hỗ trợ với xăng.
Theo đại biểu, các giải pháp này sẽ tạo nguồn lực phục hồi cho sản xuất, vận tải và thi công.
Để giảm giá điện bền vững, cần giảm chi phí đầu tư và vận hành. Đại biểu đề nghị ưu tiên vốn cho các đường dây truyền tải, trạm biến áp theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh để giải tỏa công suất; có cơ chế vay ưu đãi cho các thiết bị điện nhập khẩu như thiết bị điện gió, điện mặt trời, thủy điện.
Đại biểu Nguyễn Cao Sơn cho biết, giá thiết bị hiện tăng từ 20% đến 40% so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy, cần cập nhật quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cắt giảm thủ tục đầu tư cho các dự án năng lượng và xác định tiêu chí, thời hạn điều chuyển công suất giữa các địa phương.
Các ý kiến của đại biểu Quốc hội đã gợi mở nhiều giải pháp thiết thực, góp phần hoàn thiện chính sách, khơi thông nguồn lực và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Việc tiếp tục phát huy những kết quả đạt được trong năm 2026, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp về thể chế, vốn, khoa học công nghệ và nâng cao năng lực doanh nghiệp sẽ tạo nền tảng quan trọng để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2027.














