Muốn hút 'đại bàng', đặc khu kinh tế Việt Nam cần nhiều hơn các ưu đãi
Các đặc khu kinh tế được kỳ vọng trở thành những cực tăng trưởng mới của Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu ngày càng khốc liệt, chỉ riêng các chính sách ưu đãi là chưa đủ để thu hút những "đại bàng" công nghệ và dòng vốn chất lượng cao.
Thế giới hiện nay có nhiều đặc khu kinh tế thành công, trở thành động lực tăng trưởng và "đầu tàu" phát triển của nhiều quốc gia, điển hình như Thâm Quyến (Trung Quốc), Dubai (UAE) hay Singapore với các khu thương mại tự do hiện đại.
Các đặc khu kinh tế không chỉ thu hút dòng vốn đầu tư khổng lồ, các mô hình này còn đóng vai trò thử nghiệm những cơ chế, chính sách đột phá, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút dòng vốn đầu tư toàn cầu ngày càng gay gắt, việc xây dựng một đặc khu kinh tế thành công không chỉ dừng lại ở các chính sách ưu đãi mà còn đòi hỏi cơ chế quản trị linh hoạt, hạ tầng đồng bộ và những chính sách đủ sức tạo ra lợi thế cạnh tranh khác biệt.
Liên quan đến vấn đề này, ông Mạc Vũ Hưng, Giám đốc dự án Công ty tư vấn BCG đã có những chia sẻ về các bài học kinh nghiệm quốc tế cũng như những xu hướng phát triển mới mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình hoàn thiện mô hình đặc khu kinh tế.

Ông Mạc Vũ Hưng, Giám đốc dự án Công ty tư vấn BCG. Ảnh: Việt Vũ
+ Theo ông, để một đặc khu kinh tế có thể cạnh tranh và phát triển thành công trong bối cảnh hiện nay cần hội tụ những yếu tố nào và Việt Nam đang ở đâu trong quá trình này?
- Qua quá trình nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, tôi nhận thấy sự cạnh tranh giữa các đặc khu kinh tế và khu thương mại tự do trên thế giới hiện nay rất khốc liệt. Đối với quá trình phát triển các khu kinh tế và khu thương mại tự do tại Việt Nam, theo tôi có khoảng 3 “bài toán lớn” cần phải giải.
Thứ nhất, việc phát triển các khu kinh tế hiện nay vẫn còn theo hướng dàn trải, chưa có sự tập trung và chưa định vị rõ ràng từng khu sẽ có sự khác biệt như thế nào, tập trung vào ngành, lĩnh vực nào.
Bài toán thứ hai liên quan đến cơ chế, chính sách. Nhiều khu đã được ban hành các chính sách có tính cạnh tranh khá cao. Tuy nhiên, quá trình thực thi và triển khai vẫn còn nhiều vướng mắc giữa địa phương với các Bộ, ngành. Đặc biệt, đối với những cơ chế, chính sách mang tính đột phá hoặc vượt khung so với quy định hiện hành thì việc hướng dẫn và phối hợp triển khai vẫn chưa thực sự rõ ràng.
Cuối cùng là vấn đề phân cấp, phân quyền. Hiện nay, nhiều thẩm quyền vẫn nằm ở cấp Bộ, ngành và chưa được trao cho địa phương hoặc Ban Quản lý khu kinh tế để có thể chủ động triển khai một cách hiệu quả.
+ Vậy Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm quốc tế như thế nào để hoàn thiện thể chế, chính sách cho các đặc khu kinh tế, thưa ông?
- Trước hết cần có cơ chế trao quyền mạnh mẽ hơn cho Ban Quản lý các khu kinh tế để họ có thể chủ động quyết định nguồn ngân sách cũng như triển khai các chính sách thí điểm. Ví dụ, trong từng giai đoạn có thể chủ động quyết định các chương trình thu hút nhân tài; hoặc đối với các lĩnh vực khoa học công nghệ, công nghệ cao thì có thể xác định rõ ngành nào, doanh nghiệp nào được ưu tiên hỗ trợ trong từng thời kỳ.
Ngoài ra, cần có cơ chế phối hợp liên ngành giữa các bộ, ngành với địa phương, có thể dưới hình thức một ban điều phối, để trong quá trình triển khai các khu kinh tế luôn có sự thống nhất về định hướng, chiến lược cũng như kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn phát sinh tại địa phương.

Một góc đặc khu kinh tế Vân Đồn, Quảng Ninh. Ảnh: Việt Vũ
+ Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, các đặc khu kinh tế và khu thương mại tự do của Việt Nam cần học hỏi những kinh nghiệm gì từ các mô hình thành công trên thế giới, thưa ông?
- Về cơ bản các khu kinh tế và khu thương mại tự do đều gặp những thách thức tương tự nhau, chủ yếu vẫn là vấn đề phân cấp, phân quyền, cơ chế chính sách cũng như định hướng phát triển. Kinh nghiệm cho thấy, để phát triển các lĩnh vực công nghệ thông tin, chuyển đổi số và công nghệ cao thì cần đáp ứng một số điều kiện.
Trước hết, cần triển khai các cơ chế thí điểm (sandbox) cho từng ngành, lĩnh vực. Tiếp đến, đối với các doanh nghiệp công nghệ cao, chẳng hạn doanh nghiệp bán dẫn, họ rất cần hạ tầng điện, năng lượng sạch. Vì vậy, đầu tư hạ tầng trong các đặc khu là yếu tố rất quan trọng.
Đối với các ngành chuyển đổi số và công nghệ cao, việc thu hút nhân tài là yếu tố quyết định. Nhiều đặc khu trên thế giới áp dụng các chính sách như visa thuận lợi hoặc miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân ở mức cao để thu hút chuyên gia.
Ngoài chính sách ưu đãi, cũng cần chú trọng xây dựng môi trường sống, làm việc và vui chơi phù hợp cho các chuyên gia. Vì vậy, phát triển hạ tầng và môi trường sống đồng bộ là yêu cầu rất quan trọng.
Có thể thấy các khu như Singapore hay Dubai đều sở hữu hệ thống hạ tầng rất hiện đại, kết nối hiệu quả giữa cảng biển, sân bay và các khu công nghiệp.
Đặc biệt, các dịch vụ logistics của họ như thông quan hay xử lý hàng hóa đều diễn ra rất nhanh và hiệu quả. Đây là kinh nghiệm mà Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi để áp dụng cho các đặc khu kinh tế và khu thương mại tự do.
Xin cảm ơn ông!
Mới đây, trong dự thảo Luật Phát triển đô thị, Bộ Tư pháp đề xuất thành lập khu kinh tế đặc biệt tại các vị trí chiến lược ven biển, áp dụng cơ chế vượt trội về tổ chức, quản lý và đầu tư nhằm hình thành cực tăng trưởng mới.
Theo cơ quan soạn thảo, các khu kinh tế ven biển có lợi thế về vị trí địa lý, hạ tầng cảng biển và sân bay, song cần một không gian thể chế mới với cơ chế vượt trội để thu hút nhà đầu tư chiến lược, nâng hiệu quả đầu tư và sử dụng đất.
Bộ Tư pháp cũng cho biết đã nghiên cứu thực trạng 13 đặc khu hiện nay và nhận thấy mức độ phát triển còn chênh lệch lớn giữa các địa phương. Những nơi có điều kiện thuận lợi như Phú Quốc, Vân Đồn, Cát Hải phát triển nhanh hơn các đặc khu tiền tiêu, quy mô nhỏ, còn phụ thuộc nhiều vào kinh tế tự cung tự cấp.
Theo cơ quan soạn thảo, thực tế này cho thấy hạ tầng, thể chế và liên kết vùng có vai trò quyết định, đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng khung chính sách riêng để phát huy vai trò các khu vực động lực, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh.







