• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khai thác hết dư địa đầu tư công, FDI để bùng nổ tăng trưởng

Nếu giải ngân hết phần đầu tư công còn lại, thu hút mạnh FDI và kích hoạt các động lực mới, Việt Nam có thể đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong năm 2026.

Đây là nhận định của PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương về triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Đầu tư công mới giải ngân hơn 35%, dư địa còn rất lớn

- Thưa ông, tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18%. Để cả năm đạt ít nhất 10%, nửa cuối năm phải tăng gần 12%. Ông nhìn nhận mục tiêu này như thế nào?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Đây là mục tiêu rất thách thức nhưng không phải bất khả thi. Điều quan trọng là phải trả lời được câu hỏi chúng ta lấy nguồn lực ở đâu để tạo ra mức tăng trưởng gần 12% trong 6 tháng cuối năm.

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân).

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân).

Theo tôi, những động lực tăng trưởng truyền thống của Việt Nam vẫn chưa được khai thác hết. Chẳng hạn, đầu tư công mới giải ngân khoảng hơn 35%, nghĩa là còn tới gần 65% kế hoạch phải thực hiện trong nửa cuối năm. Nếu đẩy nhanh giải ngân, riêng yếu tố này có thể đóng góp thêm khoảng 1,5 - 2 điểm phần trăm cho tăng trưởng GDP.

Bên cạnh đó là việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Xu hướng vốn FDI đang tăng khá mạnh nhờ môi trường đầu tư được cải thiện. Đầu tư tư nhân cũng có thể phục hồi mạnh khi các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đi vào thực chất hơn. Nếu khai thác đầy đủ các động lực truyền thống, theo tôi, đã có thể đạt khoảng 10%. Còn nếu cộng thêm các động lực mới như trung tâm tài chính quốc tế, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, kinh tế carbon thấp,... thì hoàn toàn có thể vượt mức tăng trưởng này.

- Nhiều ý kiến lo ngại số doanh nghiệp rút lui gần bằng số doanh nghiệp thành lập mới. Điều này có phải tín hiệu suy giảm không, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Tôi không cho rằng nền kinh tế đang đi xuống. Đây là quá trình sàng lọc để hình thành một thế hệ doanh nghiệp mới phù hợp với điều kiện phát triển mới. Có những doanh nghiệp trước đây hoạt động theo cách “lách”, “né”, khi môi trường quản lý minh bạch hơn thì phải rút lui. Điều đó là cần thiết để thị trường trong sạch và lành mạnh hơn.

- Theo ông, đâu là những rào cản lớn nhất đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Có ba vấn đề cần đặc biệt lưu ý. Thứ nhất là lạm phát. Chúng ta đang thực hiện đồng thời cả chính sách tài khóa mở rộng và tiền tệ mở rộng. Nếu nguồn lực được đưa vào sản xuất kinh doanh, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu phát triển và các hoạt động tạo ra năng suất mới thì không chỉ tăng trưởng mà có thể tạo ra sự bùng nổ tăng trưởng. Ngược lại, nếu tiền không được hấp thụ hiệu quả thì sẽ tạo áp lực lạm phát. 

Thứ hai là tỷ giá. Trong khi lãi suất của các nền kinh tế lớn còn ở mức cao, lãi suất trong nước lại giảm xuống. Điều này tạo áp lực lên đồng Việt Nam. Nếu không kiểm soát tốt, tỷ giá có thể biến động rất mạnh vào cuối năm, kéo theo lạm phát nhập khẩu và làm đảo lộn hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế có độ mở gần 200% GDP như Việt Nam.

Thứ ba là môi trường kinh doanh. Dù đã cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đủ “mịn màng”. Chi phí doanh nghiệp còn cao, thủ tục còn phức tạp và điều này cản trở làn sóng thành lập doanh nghiệp mới.

Nếu tận dụng tốt, Việt Nam có thể bước vào giai đoạn tăng trưởng bứt phá

- Ông nhiều lần nhắc tới khả năng “bùng nổ tăng trưởng”. Khái niệm này nên hiểu như thế nào?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Bùng nổ tăng trưởng không chỉ là đạt khoảng 10%, mà là nền kinh tế có thể vươn lên 12%, vượt ngoài kỳ vọng thông thường. Điều quan trọng hơn là hình thành một cơ cấu kinh tế mới dựa trên các động lực tăng trưởng mới. Các ngành truyền thống thường chỉ tăng khoảng 6 - 7%. Muốn bứt phá phải có những “ngành cột sống” mới như trung tâm tài chính quốc tế, bán dẫn, thiết kế vi mạch, đóng gói chip, kinh tế số, tài chính xanh và kinh tế tuần hoàn. Nếu những lĩnh vực này phát triển mạnh, Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và tạo ra tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài, giống như Trung Quốc hay Hàn Quốc từng trải qua.

- Ngoài các ngành công nghệ cao, còn nguồn lực nào có thể khai thác để tạo đột phá?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Có một nguồn lực rất lớn đang bị bỏ quên là tài sản công và tài sản chưa được khai thác hiệu quả. Sau quá trình sắp xếp bộ máy, nhiều trụ sở cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã dư thừa. Nếu được thương mại hóa, cho thuê hoặc khai thác theo mô hình kinh doanh phù hợp, những tài sản này có thể tạo ra dòng tiền đáng kể cho nền kinh tế. Ngoài ra, nếu kích thích mạnh hơn tiêu dùng trong nước, nâng lượng khách du lịch quốc tế từ khoảng 23 triệu lên 25 triệu lượt và phát triển các trung tâm thương mại mới thì cầu nội địa sẽ trở thành động lực tăng trưởng quan trọng.

- Ông đánh giá thế nào về đề xuất phát triển khu kinh tế, khu thương mại tự do là một trong những giải pháp thúc đẩy tăng trưởng?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Đây là hướng đi rất tích cực. Nếu triển khai tốt, khu kinh tế, khu thương mại tự do có thể đóng góp khoảng 0,3 - 0,5% GDP. Mô hình này không chỉ hỗ trợ xuất nhập khẩu mà còn thu hút đầu tư nước ngoài, hình thành trung tâm tài chính, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và kinh tế sáng tạo. Việt Nam chưa triển khai mô hình này ở quy mô lớn, nhưng hoàn toàn có thể học hỏi kinh nghiệm từ Thâm Quyến, Thượng Hải hay Hồng Kông của Trung Quốc.

- Với tất cả các yếu tố trên, ông có tin Việt Nam sẽ đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng năm nay?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Tôi cho rằng hoàn toàn có cơ sở để tin vào điều đó. Nếu giải ngân triệt để đầu tư công, thu hút tối đa FDI, đẩy mạnh xuất nhập khẩu, thúc đẩy đầu tư tư nhân và kích hoạt các động lực mới như tài chính quốc tế, tín chỉ carbon, kinh tế xanh và công nghệ cao, thì không chỉ đạt 10% mà còn có thể tạo nền tảng cho một giai đoạn tăng trưởng bứt phá hơn trong những năm tới.

Điều kiện tiên quyết là phải giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và tạo môi trường kinh doanh thông suốt để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư. Tôi tin rằng, nếu tận dụng tốt những nguồn lực đang có, Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới với tốc độ cao hơn và bền vững hơn.

Xin cảm ơn ông!

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, GDP 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 8,18%, mức cao nhất trong vòng 15 năm qua và thuộc nhóm các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trên thế giới. Các động lực tăng trưởng như đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu đều ghi nhận kết quả tích cực, đạt mức tăng cao nhất trong nhiều năm gần đây.

Bộ Tài chính đánh giá, kết quả trên cho thấy nền kinh tế tiếp tục phục hồi vững chắc, duy trì được nhịp tăng trưởng tương đối ổn định. Đây là minh chứng cho hiệu quả của công tác điều hành kinh tế vĩ mô, đồng thời phản ánh nỗ lực vượt khó của cộng đồng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế trong bối cảnh còn nhiều biến động.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết