• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số năm 2026

Những tháng cuối năm 2026 là giai đoạn cao điểm xuất khẩu của nhiều ngành hàng nông, lâm, thủy sản.

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số năm 2026
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục là động lực quan trọng đóng góp vào tăng trưởng. Ảnh minh hoạ có sự hỗ trợ của AI

Tăng tốc xuất khẩu, củng cố động lực tăng trưởng kinh tế

Những tháng cuối năm 2026 là giai đoạn cao điểm xuất khẩu của nhiều ngành hàng nông, lâm, thủy sản. Trong bối cảnh nền kinh tế phấn đấu đạt mức tăng trưởng 2 con số, kết quả xuất khẩu của khu vực nông nghiệp không chỉ có ý nghĩa hoàn thành kế hoạch ngành mà còn góp phần mở rộng quy mô sản xuất, thúc đẩy thương mại, tạo việc làm và bổ sung nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong 9 tháng năm 2026 đạt khoảng 56,3 tỷ USD, tương đương 75,9% mục tiêu cả năm. Để hoàn thành mục tiêu 74,212 tỷ USD, toàn ngành cần tận dụng hiệu quả nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong quý IV, đặc biệt tại các thị trường lớn vào dịp lễ hội, cuối năm và Tết.

Trong cơ cấu xuất khẩu, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả tiếp tục là những nhóm hàng chủ lực. Đáng chú ý, sầu riêng bước vào cao điểm xuất khẩu cuối năm, được kỳ vọng đóng góp tích cực vào tăng trưởng nhóm hàng rau quả. Lợi thế về sản lượng và nhu cầu tiêu thụ tại các thị trường lớn đang mở ra cơ hội gia tăng kim ngạch, cải thiện thu nhập cho người sản xuất và thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, cơ hội tăng trưởng cũng đi kèm yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Các thị trường nhập khẩu không chỉ quan tâm đến sản lượng, giá cả mà còn kiểm soát chặt chẽ quy trình sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật và tính minh bạch của chuỗi cung ứng. Do đó, khả năng duy trì tăng trưởng xuất khẩu ngày càng phụ thuộc vào năng lực đáp ứng tiêu chuẩn thay vì chỉ dựa trên lợi thế nguồn cung.

Đối với sầu riêng, mở rộng mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói là yêu cầu quan trọng để bảo đảm điều kiện xuất khẩu. Đồng thời đây còn là công cụ tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, kiểm soát đồng bộ từ canh tác, thu hoạch đến bảo quản và tiêu thụ. Thực tế khi vùng nguyên liệu được quản lý chặt chẽ, doanh nghiệp có thể chủ động hơn về nguồn cung, hạn chế rủi ro vi phạm tiêu chuẩn và nâng cao uy tín sản phẩm.

Ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đánh giá, kết quả xuất khẩu 9 tháng năm 2026 là cơ sở quan trọng để hướng tới mục tiêu cả năm. Đáng chú ý, tỷ lệ cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm tiếp tục duy trì ở mức cao, khoảng 94%. Cục đang chuẩn bị các nội dung liên quan đến sửa đổi Luật An toàn thực phẩm và Đề án thống nhất một đầu mối quản lý an toàn thực phẩm tại các địa phương.

Đối với thủy sản bên cạnh việc duy trì sản xuất, ngành tiếp tục chú trọng kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Trong quản lý tàu cá với tỷ lệ lắp đặt thiết bị giám sát hành trình đối với tàu cá có chiều dài từ 15 m trở lên đạt 99,7%. Hệ thống dữ liệu liên thông từ trung ương đến địa phương hỗ trợ theo dõi hoạt động tàu cá, xác định các điểm nóng vi phạm và kiểm tra tình trạng cấp giấy truy xuất nguồn gốc tại cảng cá.

Những kết quả này cho thấy chất lượng quản trị chuỗi cung ứng đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nông, lâm, thủy sản. Việc kiểm soát tốt chất lượng và nguồn gốc không chỉ giúp bảo vệ thị trường xuất khẩu mà còn hạn chế nguy cơ gián đoạn thương mại, duy trì việc làm và ổn định sản xuất. Đây là đóng góp quan trọng của khu vực nông nghiệp đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong năm 2026.

Đa dạng hóa thị trường, chế biến sâu để gia tăng giá trị xuất khẩu

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số năm 2026
Sầu riêng lợi thế về sản lượng và nhu cầu tiêu thụ tại các thị trường lớn.

Để hoàn thành mục tiêu 74,212 tỷ USD, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của các nhóm hàng chủ lực, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn cho những ngành hàng còn gặp trở ngại. Trong đó, khai thác hiệu quả các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu (EU) cần được triển khai song song với mở rộng thị trường Trung Đông và châu Mỹ.

Đa dạng hóa thị trường có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh thương mại quốc tế biến động, các chính sách nhập khẩu và tiêu chuẩn kỹ thuật liên tục thay đổi. Việc giảm phụ thuộc vào một số thị trường sẽ giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro, chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất và duy trì đầu ra ổn định. Đồng thời, tiếp cận thêm những thị trường mới cũng mở rộng cơ hội tiêu thụ, tạo dư địa tăng trưởng cho các ngành hàng nông sản.

Việc mở rộng thị trường đi đôi với chuyển dịch cơ cấu sản phẩm. Nếu xuất khẩu chủ yếu dựa vào sản phẩm tươi hoặc sơ chế, giá trị gia tăng vẫn bị giới hạn bởi tính mùa vụ, thời gian bảo quản và biến động cung cầu. Do đó, phát triển công nghiệp chế biến nông sản được xem là giải pháp quan trọng để nâng cao giá trị xuất khẩu, tận dụng tốt hơn nguồn nguyên liệu và cải thiện hiệu quả sản xuất.

Ông Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam, cho rằng việc mở rộng thị trường cần gắn với khai thác các sản phẩm chế biến nhằm gia tăng giá trị nông sản. Đối với sầu riêng, bên cạnh xuất khẩu quả tươi, cần chú trọng phát triển sầu riêng sấy, đông lạnh, bánh sầu riêng và các sản phẩm chế biến khác để mở rộng phân khúc tiêu thụ.

Thực tế, xuất khẩu quả tươi thường chịu tác động của mùa vụ, thời gian bảo quản và điều kiện vận chuyển. Trong khi đó, sản phẩm đông lạnh và chế biến có khả năng kéo dài thời gian sử dụng, giảm áp lực tiêu thụ khi thu hoạch tập trung, đồng thời tiếp cận thêm các nhóm khách hàng và chuỗi phân phối thực phẩm quốc tế. Đây là hướng đi giúp doanh nghiệp chuyển từ cạnh tranh bằng sản lượng sang gia tăng giá trị trên mỗi đơn vị nguyên liệu.

Chế biến sâu còn tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Nhu cầu đầu tư nhà máy, kho lạnh, công nghệ bảo quản, vận tải và logistics góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp, dịch vụ và tạo thêm việc làm. Khi chuỗi giá trị được mở rộng, đóng góp của nông nghiệp không chỉ thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu trực tiếp mà còn lan tỏa sang nhiều ngành kinh tế liên quan.

Để phát huy hiệu quả, doanh nghiệp cần đầu tư công nghệ phù hợp, kiểm soát chất lượng nguyên liệu và nghiên cứu nhu cầu từng thị trường. Việc phát triển sản phẩm chế biến phải gắn với tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm và khả năng cạnh tranh về giá. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp để hình thành vùng nguyên liệu tập trung, ổn định nguồn cung và bảo đảm khả năng truy xuất.

Bên cạnh đó, phát triển hệ thống bảo quản, kho lạnh, logistics chuyên dụng và hạ tầng chế biến cần được quan tâm hơn nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp nâng cao năng lực tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu.

Mục tiêu xuất khẩu 74,212 tỷ USD trong năm 2026 vì vậy không chỉ là nhiệm vụ tăng tốc kim ngạch trong những tháng cuối năm mà còn gắn với yêu cầu đóng góp thực chất hơn cho tăng trưởng kinh tế 2 con số. Khi chất lượng được nâng cao, thị trường được đa dạng hóa và chế biến sâu trở thành động lực gia tăng giá trị, ngành nông, lâm, thủy sản sẽ tiếp tục phát huy vai trò trụ đỡ, mở rộng đóng góp cho sản xuất, thương mại và việc làm. Đây là nền tảng quan trọng để xuất khẩu nông sản trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số năm 2026 và tạo sức bật cho những năm tiếp theo.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết