• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Xây dựng hạ tầng văn hóa số: Nền móng để văn hóa Việt làm chủ không gian số

Trong bối cảnh không gian số đang trở thành “không gian sống thứ hai” của hàng chục triệu người, việc xây dựng hạ tầng văn hóa số không còn đơn thuần là câu chuyện ứng dụng công nghệ mà đã trở thành một yêu cầu chiến lược nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.

Trao đổi với Báo NB&CL, PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, hạ tầng văn hóa số chính là nền móng để văn hóa Việt Nam không chỉ hiện diện mà còn đủ sức cạnh tranh, lan tỏa và tạo dựng vị thế trên môi trường số.

Kiến tạo không gian văn hóa Việt trên môi trường số

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, khi đời sống xã hội ngày càng dịch chuyển lên không gian số, văn hóa Việt Nam không thể chỉ tồn tại trong các bảo tàng, thư viện, nhà hát hay di tích, mà phải hiện diện sinh động, hấp dẫn trên chính môi trường số. Nếu hạ tầng giao thông kết nối con người và hàng hóa, hạ tầng số kết nối dữ liệu và tri thức thì hạ tầng văn hóa số chính là cầu nối giữa bản sắc Việt Nam với công nghệ, sáng tạo, thị trường và công chúng.

“Nghị định số 277/2026/NĐ-CP của Chính phủ xác định hạ tầng này gồm hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu văn hóa số cùng các nền tảng, hệ thống và công cụ số phục vụ lợi ích công cộng. Đây là cách tiếp cận toàn diện, vượt ra ngoài tư duy số hóa một số tài liệu hay hiện vật riêng lẻ”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn đánh giá.

Dù vậy, hiện nay vẫn còn không ít người hiểu hạ tầng văn hóa số đơn thuần là hệ thống máy chủ, trung tâm dữ liệu hay đường truyền. Theo ông Sơn, cách tiếp cận này chưa đầy đủ. Hạ tầng văn hóa số phải được hiểu là một hệ sinh thái gồm công nghệ, dữ liệu, nội dung, thể chế, con người và thị trường. “Công nghệ chỉ là phương tiện, dữ liệu là tài nguyên, sáng tạo là động lực, con người là trung tâm và phát triển văn hóa Việt Nam là mục tiêu cuối cùng”, ông phân tích.

2.jpg

Các nghệ sĩ khu vực Đông Á đến Việt Nam giao lưu, học hỏi kỹ thuật tranh sơn mài. Ảnh: Thế Vũ.

Tuy nhiên, điều quan trọng không phải chỉ là đưa các giá trị văn hóa lên môi trường số, mà phải hình thành được một không gian số mang đậm tinh thần và hệ giá trị Việt Nam, nơi mỗi người dân vừa là người tiếp nhận, vừa là chủ thể sáng tạo, thực hành và lan tỏa văn hóa.

“Nếu thiếu một hạ tầng đủ mạnh, văn hóa Việt Nam rất dễ bị chìm khuất giữa dòng chảy nội dung xuyên biên giới. Ngược lại, khi có dữ liệu chuẩn hóa, nền tảng phân phối phù hợp và những sản phẩm sáng tạo hấp dẫn, chúng ta hoàn toàn có thể chủ động kể câu chuyện về đất nước, con người Việt Nam bằng ngôn ngữ của thời đại”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, vì thế hạ tầng văn hóa số không chỉ phục vụ bảo tồn mà còn là nền tảng của bản sắc, của công nghiệp văn hóa, thương hiệu quốc gia và sức mạnh mềm Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Gỡ “điểm nghẽn” để dữ liệu văn hóa trở thành tài nguyên

Đánh giá về thực trạng chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa hiện nay, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng rào cản lớn nhất vẫn là dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa và khó liên thông. Nhiều bảo tàng, thư viện và địa phương đã tiến hành số hóa nhưng mỗi nơi sử dụng một định dạng, một hệ thống mô tả và phần mềm khác nhau, dẫn đến tình trạng “ốc đảo dữ liệu” - có dữ liệu nhưng không thể kết nối và khai thác hiệu quả.

Theo ông Sơn, một vấn đề cũng rất đáng quan tâm là chất lượng dữ liệu. Nếu dữ liệu văn hóa thiếu tính xác thực hoặc bị diễn giải sai, đặc biệt trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang sử dụng dữ liệu để huấn luyện, những sai lệch này có thể tạo ra những hiểu biết méo mó về lịch sử và văn hóa.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cũng chỉ ra khoảng trống về nguồn nhân lực khi đội ngũ am hiểu đồng thời văn hóa, công nghệ, dữ liệu và sở hữu trí tuệ còn rất thiếu. Quan trọng hơn, tư duy đầu tư vẫn nặng về hoàn thành dự án thay vì xây dựng một hệ sinh thái có khả năng vận hành, cập nhật và phát triển lâu dài.

Vì vậy, chúng ta cần đầu tư đồng bộ vào các nền tảng hỗ trợ sáng tạo, quản lý bản quyền và phân phối nội dung số, đồng thời xây dựng thương hiệu quốc gia trên môi trường số theo hướng dài hạn, thống nhất thay vì những chiến dịch rời rạc. Bên cạnh đó, Nhà nước cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ, nghệ sĩ độc lập, nhà sáng tạo trẻ và cộng đồng địa phương tiếp cận dữ liệu, công nghệ, vốn và thị trường.

“Nhà nước cần tạo đường băng, còn doanh nghiệp và người sáng tạo phải là lực lượng trực tiếp làm ra sản phẩm”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nói, đồng thời cho rằng, yếu tố quyết định vẫn là công chúng. Theo ông, nội dung dù có giá trị đến đâu nhưng không đến được với công chúng thì cũng chưa thể tạo thành sức mạnh văn hóa.

3.jpg

Màn múa cờ trong lễ hội đình Quán Giá, xã Dương Hòa, TP Hà Nội. Ảnh: Thế Vũ.

Hướng tới một chiến lược quốc gia về hạ tầng văn hóa số

PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhìn nhận, Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú nhưng khả năng chuyển hóa thành giá trị kinh tế còn hạn chế. Nguyên nhân là dữ liệu còn phân tán, quyền sở hữu chưa rõ ràng, thị trường thiếu minh bạch và các chủ thể sáng tạo khó tiếp cận nguồn tư liệu hợp pháp.

“Điều rất đáng chú ý là Nghị định số 277/2026/NĐ-CP mở đường cho sàn dữ liệu văn hóa, sàn giao dịch bản quyền số và nền tảng quản trị tài sản số. Đây chính là những công cụ giúp hình thành một thị trường văn hóa minh bạch hơn, nơi người sáng tạo biết mình có quyền gì, doanh nghiệp biết dữ liệu nào được phép sử dụng, chi phí ra sao và lợi ích được phân chia như thế nào”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhận định.

Theo ông, khi dữ liệu văn hóa được chuẩn hóa, định danh rõ ràng và xác lập quyền sở hữu, chúng sẽ trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng cho điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, thiết kế, thời trang, trò chơi điện tử, quảng cáo và du lịch. Tuy nhiên, khi sử dụng dữ liệu văn hóa, chúng ta không được làm méo mó giá trị văn hóa. “Phát triển công nghiệp văn hóa phải đồng thời tạo ra lợi ích kinh tế, bảo vệ bản sắc và bảo đảm quyền lợi chính đáng của cộng đồng sáng tạo”, ông Sơn lưu ý.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Việt Nam cần sớm xây dựng một chiến lược quốc gia về hạ tầng văn hóa số với tầm nhìn dài hạn, trong đó xác định dữ liệu văn hóa là nguồn tài nguyên chiến lược, công nghiệp văn hóa là động lực tăng trưởng và chủ quyền văn hóa số là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia.

Ông cho rằng Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thông qua việc xây dựng tiêu chuẩn dữ liệu, cơ chế bản quyền, chính sách chia sẻ lợi ích và đầu tư hạ tầng nền tảng. Trong khi đó, doanh nghiệp công nghệ cần cung cấp năng lực về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, bảo vệ bản quyền và phân phối nội dung.

“Nhưng doanh nghiệp không chỉ làm theo đơn đặt hàng công nghệ, mà cần cùng các nhà văn hóa nghiên cứu nhu cầu thực tế, bảo đảm rằng công nghệ phục vụ giá trị văn hóa chứ không áp đặt tư duy kỹ thuật lên văn hóa”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn khuyến cáo.

Đồng thời, các bảo tàng, thư viện, trường đại học và viện nghiên cứu phải trở thành những trung tâm tạo lập dữ liệu chất lượng; còn đội ngũ nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà làm phim và nhà sáng tạo nội dung sẽ là lực lượng biến dữ liệu thành những sản phẩm có sức lan tỏa.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh rằng mục tiêu cuối cùng của hạ tầng văn hóa số không phải là sở hữu thật nhiều dữ liệu hay thật nhiều nền tảng.

“Đích đến cao nhất là xây dựng được một không gian số trong đó người Việt Nam nhận ra mình, tự hào về mình và có khả năng sáng tạo tương lai từ chính những giá trị của dân tộc. Chủ quyền văn hóa số không có nghĩa là khép kín hay từ chối giao lưu. Đó là năng lực chủ động làm chủ dữ liệu, nền tảng, nội dung và câu chuyện của mình; đủ tự tin tiếp nhận tinh hoa thế giới nhưng không bị hòa tan; đủ sức tạo ra những sản phẩm mang bản sắc Việt Nam và có giá trị phổ quát đối với nhân loại”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn khẳng định.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết