Lập hành lang pháp lý cho AI trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp
Những quy định mới được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng pháp lý cho chuyển đổi số trong giáo dục đại học diễn ra minh bạch, hiệu quả.
.png)
Lần đầu tiên, các nguyên tắc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong đào tạo và nghiên cứu khoa học được quy định rõ, cùng yêu cầu gắn ứng dụng công nghệ với quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình và bảo đảm liêm chính học thuật.
Ứng dụng công nghệ gắn với quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình
Mới đây, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BGDĐT quy định về ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp (Thông tư 49). Đây là văn bản đầu tiên quy định tương đối toàn diện việc ứng dụng công nghệ số và AI trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản trị cơ sở giáo dục.
Thông tư được xây dựng nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025; đồng thời bảo đảm thống nhất với Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo và các quy định về quản lý dữ liệu trong giáo dục.
Một trong những điểm mới đáng chú ý là Thông tư xác lập các nguyên tắc ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp theo hướng bảo đảm quyền tự chủ của cơ sở giáo dục gắn với tự kiểm soát, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc ứng dụng công nghệ phải lấy người học làm trung tâm, phục vụ thực hiện chương trình đào tạo và đáp ứng chuẩn đầu ra.
Thông tư cũng quy định các phương thức đào tạo có ứng dụng công nghệ gồm: đào tạo trực tiếp có hỗ trợ công nghệ số, đào tạo trực tuyến toàn phần, đào tạo kết hợp và đào tạo cá thể hóa dựa trên dữ liệu, trí tuệ nhân tạo. Các cơ sở giáo dục bắt buộc phải xây dựng hệ thống quản lý học tập đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, bảo đảm xác thực danh tính, lưu vết quá trình học tập và hỗ trợ phòng ngừa gian lận.
Đối với kiểm tra, đánh giá, kết quả thực hiện trên môi trường số phải được lưu trữ, có khả năng truy xuất, kiểm chứng phục vụ thanh tra, kiểm tra. Thông tư cũng khẳng định AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế vai trò và trách nhiệm học thuật của giảng viên.
Theo PGS.TS Đỗ Văn Hùng - Trưởng khoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), AI tạo sinh đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong giáo dục đại học.
Trong giảng dạy, AI có thể hỗ trợ giảng viên xây dựng đề cương học phần, thiết kế bài giảng, xây dựng công cụ đánh giá, phát triển học liệu đa phương tiện và hỗ trợ người học thông qua chatbot. Những công cụ này giúp giảm đáng kể thời gian chuẩn bị, đồng thời nâng cao hiệu quả tổ chức dạy học trong bối cảnh chuyển đổi số.

Cán bộ, giảng viên, sinh viên Trường ĐH Giao thông vận tải.
Thiết lập chuẩn mực liêm chính học thuật trong môi trường số
Ở lĩnh vực nghiên cứu khoa học, PGS.TS Đỗ Văn Hùng nhìn nhận, AI hỗ trợ hình thành ý tưởng, tổng hợp tài liệu, thiết kế nghiên cứu, phân tích dữ liệu và chuẩn bị công bố quốc tế. Với khả năng xử lý ngôn ngữ tự nhiên và tổng hợp tri thức nhanh, AI đang trở thành trợ lý nghiên cứu hữu ích, nhất là với các nhà nghiên cứu trẻ.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Đỗ Văn Hùng, việc ứng dụng AI cũng đặt ra nhiều thách thức. Đó là năng lực số của đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu còn chưa đồng đều; hạ tầng công nghệ ở nhiều cơ sở giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu; nguy cơ đạo văn, gian lận học thuật gia tăng; trong khi cơ chế hỗ trợ về tài chính, đào tạo và triển khai AI vẫn còn hạn chế.
Để AI thực sự trở thành công cụ nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, PGS.TS Đỗ Văn Hùng cho rằng, cần đồng thời nâng cao năng lực số của đội ngũ giảng viên, đầu tư hạ tầng công nghệ, tăng cường bảo đảm đạo đức học thuật và tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ triển khai AI trong giáo dục.
Đáng chú ý, Thông tư 49 lần đầu quy định rõ các hành vi vi phạm liêm chính học thuật trong môi trường số, như sử dụng AI để gian lận, sao chép hoặc đạo văn, giả mạo hoặc làm sai lệch dữ liệu, không công bố việc sử dụng AI khi có yêu cầu. Theo đó, các cơ sở giáo dục phải ban hành quy định nội bộ về liêm chính học thuật và bộ quy tắc ứng xử đối với việc sử dụng AI trong đào tạo, nghiên cứu khoa học.
Theo PGS.TS Ali Al-Dulaimi - Trưởng khoa Khoa học Máy tính và Công nghệ, Trường Đại học Anh quốc Việt Nam, các giá trị cốt lõi của liêm chính học thuật trong thời đại AI vẫn không thay đổi, gồm: trung thực, tin cậy, công bằng, trách nhiệm và tôn trọng tri thức. Điều thay đổi là cách những nguyên tắc đó được vận dụng trong bối cảnh công nghệ mới.
Ông cho rằng, vấn đề không nằm ở việc người học có sử dụng AI hay không, mà ở sự trung thực giữa sản phẩm được trình bày và năng lực thực chất của người học. AI có thể hỗ trợ động não ý tưởng, giải thích khái niệm hoặc phản hồi bản thảo ban đầu, nhưng nếu được sử dụng để tạo ra toàn bộ bài tập rồi trình bày như sản phẩm của bản thân thì đã vi phạm liêm chính học thuật.

Giảng viên, sinh viên Trường Đại học Anh quốc Việt Nam. Ảnh: BUV.
Vì vậy, theo PGS.TS Ali Al-Dulaimi, các cơ sở giáo dục cần thiết kế hình thức đánh giá theo hướng ghi nhận quá trình tư duy, yêu cầu người học công khai việc sử dụng AI khi cần thiết, xác định rõ quyền tác giả và chứng minh được sự hiểu biết đối với sản phẩm học thuật của mình.
Tại tọa đàm khoa học về ứng dụng AI trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học do Học viện Hành chính và Quản trị công tổ chức, PGS.TS Nguyễn Bá Chiến - Giám đốc Học viện nhận định, AI đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ đối với hoạt động dạy học, nghiên cứu và quản trị đại học. Theo ông, đầu tư phát triển năng lực công nghệ, đặc biệt là năng lực ứng dụng AI cho đội ngũ giảng viên và nghiên cứu viên là yêu cầu tất yếu để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và xây dựng đội ngũ nhân lực có tư duy số, đáp ứng yêu cầu phát triển của giáo dục đại học trong giai đoạn mới.
Ngoài ra, Thông tư 49 yêu cầu các cơ sở giáo dục xây dựng mô hình giáo dục số, quản trị dựa trên dữ liệu; phát triển cơ sở dữ liệu tập trung về chương trình đào tạo, người học, giảng viên, kết quả học tập và nghiên cứu khoa học; đồng thời kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu ngành theo quy định.







