• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nghị quyết số 36: Cơ hội chuẩn hóa vùng nguyên liệu sầu riêng

Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP rút ngắn thủ tục cấp mã số vùng trồng, mở cơ hội xây dựng vùng nguyên liệu minh bạch, tạo nền tảng cho sầu riêng phát triển bền vững.

Đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho vùng nguyên liệu

Sầu riêng đang bước vào giai đoạn phát triển mới với quy mô sản xuất ngày càng lớn và thị trường xuất khẩu tiếp tục mở rộng. Theo báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026, diện tích sầu riêng cả nước ước khoảng 200 nghìn ha, trong đó diện tích cho sản phẩm khoảng 129,5 nghìn ha, sản lượng dự kiến đạt 2,08 triệu tấn. Giá trị xuất khẩu sầu riêng tăng mạnh, từ 177,7 triệu USD năm 2021 lên khoảng 3,85 tỷ USD năm 2025. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đạt khoảng 950,7 triệu USD, tăng 31,1% so với cùng kỳ.

Truy xuất nguồn gốc sầu riêng.

Truy xuất nguồn gốc sầu riêng.

Những kết quả này cho thấy dư địa phát triển của sầu riêng Việt Nam còn lớn. Sầu riêng tươi đã có mặt tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ; từ tháng 7/2026, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam. Việt Nam cũng đang tiếp tục đàm phán mở cửa thêm các thị trường Australia, New Zealand và một số thị trường tiềm năng. Nhưng khi thị trường mở rộng, yêu cầu đối với vùng nguyên liệu cũng thay đổi. Mã số vùng trồng không còn chỉ là một thủ tục để hoàn thiện điều kiện xuất khẩu, mà ngày càng trở thành công cụ quan trọng để quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và xây dựng niềm tin với thị trường.

Đến hết tháng 7/2026, cả nước có 1.201 mã số vùng trồng và 120 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng đang hoạt động; đồng thời có 1.166 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói đang chờ Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt. Quy mô này cho thấy hệ thống phục vụ xuất khẩu sầu riêng đã được mở rộng đáng kể.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, việc cấp mã số vùng trồng từng phát sinh những vướng mắc nhất định, nhất là đối với các vùng trồng xen hoặc những diện tích chưa đáp ứng điều kiện về quy mô. Đây là một trong những vấn đề được Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói tập trung tháo gỡ. Điểm đáng chú ý của Nghị quyết số 36 là cải cách thủ tục theo hướng đơn giản, minh bạch và thực hiện trực tuyến toàn trình.

Trao đổi bên lề Hội nghị triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, cho biết thời gian giải quyết thủ tục cấp mã số vùng trồng không phục vụ xuất khẩu giảm khoảng 78%; trường hợp phục vụ xuất khẩu giảm khoảng 35%; số lượng hồ sơ, giấy tờ phải nộp giảm trên 50%. Đây là thay đổi có ý nghĩa thực tế đối với người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Khi thủ tục được rút gọn, chi phí và thời gian giảm, các vùng sản xuất đủ điều kiện sẽ có cơ hội nhanh chóng tham gia chuỗi cung ứng chính thức, thay vì mất nhiều thời gian cho các thủ tục hành chính.

Đặc biệt, Nghị quyết số 36 không chỉ hướng tới việc “cấp nhanh hơn” mà còn thay đổi cách tiếp cận trong quản lý. Việc chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cùng với số hóa dữ liệu, đặt trách nhiệm lớn hơn vào người đăng ký mã số, người sản xuất và các chủ thể tham gia chuỗi. Nói cách khác, Nhà nước giảm bớt những khâu hành chính không cần thiết nhưng yêu cầu về chất lượng và trách nhiệm không giảm. Đây là điểm cần được nhìn nhận tích cực, bởi một hệ thống mã số vùng trồng chỉ có giá trị khi thông tin được duy trì chính xác và vùng trồng thực sự tuân thủ quy trình sản xuất.

Mã số vùng trồng phải trở thành nền tảng của sản xuất minh bạch

Điều quan trọng nhất sau khi thủ tục được đơn giản hóa là làm thế nào để mã số vùng trồng thực sự phát huy giá trị. Thực tế cho thấy, mã số chỉ là một trong những điều kiện cần để nông sản xuất khẩu. Người sản xuất vẫn phải tuân thủ quy trình canh tác, đáp ứng yêu cầu kiểm dịch, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn kỹ thuật của từng thị trường nhập khẩu.

Tỉnh Đắk Lắk triển khai cơ chế mới về cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo hướng đơn giản hóa thủ tục.

Tỉnh Đắk Lắk triển khai cơ chế mới về cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo hướng đơn giản hóa thủ tục.

Với sầu riêng, yêu cầu này càng rõ khi các thị trường nhập khẩu ngày càng quan tâm đến chất lượng và an toàn thực phẩm. Cùng với hệ thống mã số, năng lực kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu cũng đang được tăng cường. Đến ngày 5/8/2026, GACC đã chấp thuận 50 phòng kiểm nghiệm tại Việt Nam; tổng công suất của các phòng đang hoạt động khoảng 13.000 mẫu/ngày đối với Cadimi và 10.000 mẫu/ngày đối với Vàng O.

Riêng khu vực Tây Nguyên có 6 phòng kiểm nghiệm được Trung Quốc chấp thuận, với công suất khoảng 900 mẫu/ngày/chỉ tiêu. Hệ thống này hiện cơ bản đáp ứng nhu cầu kiểm nghiệm trong giai đoạn cao điểm mùa vụ. Tuy nhiên, kiểm nghiệm ở khâu cuối cùng chỉ có thể xử lý phần ngọn. Để giảm rủi ro cho cả người sản xuất và doanh nghiệp, chất lượng cần được kiểm soát từ ngay vùng nguyên liệu. Đây chính là điểm mà cơ chế hậu kiểm trong Nghị quyết số 36 có thể phát huy hiệu quả. Khi thủ tục cấp mã được đơn giản hóa, cơ quan quản lý có điều kiện tập trung nhiều hơn vào việc giám sát sau cấp mã; người sản xuất phải chủ động duy trì quy trình; doanh nghiệp cũng có thêm cơ sở để tổ chức vùng nguyên liệu ổn định.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, mở rộng điều kiện cấp mã không đồng nghĩa với hạ thấp yêu cầu quản lý. Ngược lại, trách nhiệm của người sản xuất phải cao hơn, quy trình sản xuất phải chuẩn hóa hơn và sản phẩm phải an toàn hơn. Cách tiếp cận này cũng mở ra cơ hội tổ chức lại vùng nguyên liệu theo hướng tập trung và liên kết. Một mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu có thể bao gồm nhiều hộ sản xuất với các mã quản lý nội bộ khác nhau. Khi phát sinh vấn đề, cơ quan quản lý có thể truy xuất đến từng hộ, thay vì phải tạm dừng toàn bộ mã số vùng trồng.

Đây là một hướng đi phù hợp với yêu cầu của sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Thay vì mỗi hộ tự sản xuất, tự ghi chép và tự chịu trách nhiệm theo cách riêng, các hộ có thể liên kết trong hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc các mô hình liên kết với doanh nghiệp. Qua đó, quy trình canh tác, sử dụng vật tư, thu hoạch, sơ chế và truy xuất được thống nhất hơn.

Theo Thứ trưởng, việc tham gia hợp tác xã hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, song địa phương cần tăng cường tuyên truyền, vận động để hình thành các liên kết sản xuất bền vững. Đây cũng là cơ sở để xây dựng những vùng nguyên liệu đủ quy mô, thuận lợi cho quản lý và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Từ góc độ này, Nghị quyết số 36 có thể được nhìn nhận không chỉ là một chính sách cải cách thủ tục hành chính mà còn là cơ hội thúc đẩy quá trình tổ chức lại sản xuất nông nghiệp. Nếu làm tốt, mã số vùng trồng sẽ giúp trả lời những câu hỏi quan trọng của thị trường: sản phẩm được sản xuất ở đâu, ai sản xuất, quy trình như thế nào, sử dụng vật tư gì và có thể truy xuất đến đâu khi phát sinh vấn đề.

Hậu kiểm tốt để tạo niềm tin với thị trường

Để Nghị quyết số 36 đi vào thực tế, khâu triển khai tại địa phương sẽ có vai trò quyết định. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đề nghị các địa phương, đặc biệt những vùng sản xuất cây ăn quả xuất khẩu lớn, triển khai các chiến dịch cao điểm khoảng 30 ngày nhằm hoàn thành cấp mã số tại các vùng trọng điểm. Trước mắt, các địa phương Đắk Lắk, Lâm Đồng và Gia Lai được xác định là những địa bàn cần tập trung.

Việc huy động nguồn lực để cấp mã nhanh là cần thiết. Nhưng song song với đó, cần chuẩn bị ngay năng lực hậu kiểm. Bởi nếu tốc độ cấp mã tăng nhanh nhưng năng lực giám sát không theo kịp, nguy cơ phát sinh những mã số không được duy trì đúng điều kiện vẫn có thể xảy ra. Do đó, cần phát huy vai trò của hợp tác xã, doanh nghiệp và hệ thống khuyến nông; nâng trách nhiệm của người sản xuất, tăng cường hậu kiểm và kết nối dữ liệu đất đai, mã số vùng trồng, thông tin sản xuất để quản lý, truy xuất hiệu quả hơn.

Sầu riêng Việt Nam đang có lợi thế rõ rệt về quy mô sản xuất, sản lượng và thị trường. Nhưng lợi thế đó chỉ có thể chuyển thành sức cạnh tranh dài hạn nếu chất lượng được duy trì ổn định. Nghị quyết số 36 đã mở cánh cửa về thủ tục. Bước tiếp theo là biến sự thuận lợi đó thành năng lực quản trị vùng nguyên liệu. Khi cấp mã số đi cùng số hóa dữ liệu, liên kết sản xuất, kiểm soát chất lượng và hậu kiểm hiệu quả, mã số vùng trồng sẽ không chỉ là “tấm vé” xuất khẩu mà trở thành nền tảng để xây dựng một nền nông nghiệp minh bạch, có trách nhiệm và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường.

Đây cũng là hướng đi cần thiết không chỉ với sầu riêng mà với các ngành hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam trong quá trình nâng cao giá trị và xây dựng thương hiệu trên thị trường quốc tế. Như Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, mục tiêu cuối cùng là xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp minh bạch, có trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu của cả thị trường trong nước và xuất khẩu.

Nghị quyết số 36 đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng, tạo thuận lợi cho sản xuất và xuất khẩu. Quan trọng hơn, chính sách mở ra cơ hội xây dựng vùng nguyên liệu minh bạch, chuẩn hóa và có trách nhiệm hơn.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết