Nới lỏng điều kiện đối với vốn ngoại có chọn lọc và minh bạch
Theo Dự thảo Luật đầu tư sửa đổi, căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ sẽ xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Bộ Tài chính vừa hoàn thiện Dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi và chuyển Bộ Tư pháp thẩm định.
Trước đó, trong tháng 8, Bộ Tài chính từng chuyển hồ sơ dự án luật này sang Bộ Tư pháp nhưng Bộ Tư pháp chưa tiến hành thẩm định. Ngày 24/8, Văn phòng Chính phủ đã có công văn thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thống nhất về việc báo cáo UBTVQH cho phép áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với dự án Luật.
Ngày 4/9/2026, Bộ Tài chính đã tổ chức cuộc họp với các Hiệp hội, doanh nghiệp, công ty luật và tổ chức tư vấn để lấy ý kiến lần 2 đối với dự thảo Luật.
Trên cơ sở các ý kiến góp ý, Bộ Tài chính đã hoàn thiện Dự thảo Luật lần 2 và chuyển sang Bộ Tư pháp chờ thẩm định.

Nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường
Dự thảo Luật đã bổ sung quy định về việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Đây là nội dung nhận được nhiều góp ý của các bộ, ngành, doanh nghiệp.
Cụ thể, khoản 3a điều 8 quy định căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.
So với Dự thảo Luật lần 1, Ban soạn thảo đã bỏ nội dung "Chính phủ được giao thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tối đa 100% vốn điều lệ".
Góp ý nội dung này, NHNN cho rằng việc cho phép sở hữu 100% tại các ngành như dịch vụ tài chính, kế toán, kiểm toán, đại lý lữ hành... đồng nghĩa với việc dòng vốn ngoại vào - ra sẽ có quy mô lớn hơn và nhạy cảm hơn với biến động lãi suất/tỷ giá toàn cầu, theo đó làm gia tăng nguy cơ đảo chiều dòng vốn.
Giải trình về việc này, Bộ Tài chính cho biết, kết quả rà soát Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài cho thấy có 10/91 ngành, phân ngành có quy định điều kiện về hình thức đầu tư là thành lập liên doanh mà không hạn chế về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài.
Việc không hạn chế về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đồng nghĩa với việc nhà đầu tư nước ngoài có quyền sở hữu đến 99,9% vốn điều lệ trong tổ chức kinh tế.
Việc bỏ điều kiện về hình thức liên doanh vì vậy không làm thay đổi thực chất quy mô dòng vốn nước ngoài vào các ngành này mà chủ yếu cắt giảm rào cản tiếp cận thị trường và chi phí tuân thủ, đúng nhiệm vụ tại Nghị quyết số 10-NQ/TW và Quyết định số 2014/QĐ-TTg ngày 12/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với các ngành, nghề thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, Bộ Tài chính cho biết việc xem xét nới lỏng (nếu có) bắt buộc phải lấy ý kiến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tư cách cơ quan quản lý ngành và phải được đánh giá tác động đầy đủ, trong đó có tác động đối với quy mô, cơ cấu dòng vốn và an toàn hệ thống.
Chặn cơ chế xin-cho
Bộ Công Thương đề nghị bổ sung nguyên tắc, tiêu chí để tránh áp dụng tùy nghi. Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài (VAFIE) đề nghị nêu rõ nguyên tắc Chính phủ chỉ quyết định trên cơ sở danh mục ngành, nghề và bộ tiêu chí được công bố. Quyết định phải nêu rõ căn cứ, phạm vi, thời hạn, điều kiện và phải được đăng tải trên Cổng đầu tư một cửa quốc gia và rà soát định kỳ… nhằm vừa mở cửa có chọn lọc, vừa loại bỏ cơ chế “xin - cho”.
Bộ Tài chính cho biết sau chỉnh lý, khoản 3a, điều 8 dự thảo đã bỏ khái niệm “dự án đầu tư chiến lược, có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội”, “các dự án khác”. Việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường được xác định theo ngành, nghề, không phụ thuộc vào việc nhận diện dự án chiến lược.
Theo Bộ Tài chính, dự thảo sau chỉnh lý đã xác lập các lớp ràng buộc để loại trừ nguy cơ áp dụng tùy nghi.
Về căn cứ, việc nới lỏng phải dựa trên “điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ”.
Về nguyên tắc, phải công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.
Về giới hạn nội dung, chỉ được nới lỏng, không được đặt thêm hạn chế mới.
Về hình thức - phải thể hiện bằng văn bản quy phạm pháp luật, xác định theo ngành, nghề và áp dụng chung, không quyết định theo từng dự án hoặc từng nhà đầu tư.
“Mỗi văn bản nới lỏng đều phải ban hành theo trình tự, thủ tục của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bắt buộc đánh giá tác động chính sách và lấy ý kiến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, bộ quản lý ngành, đồng thời được đăng Công báo và cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật”, Bộ Tài chính nêu rõ.








