Hơn 60 quốc gia đã dùng nhiên liệu sinh học, Việt Nam tăng tốc với xăng E10
(CLO) Ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công cho biết: Hiện có hơn 60 quốc gia trên thế giới đang sử dụng nhiên liệu sinh học ở các mức độ khác nhau.
Mỗi ngày hơn 36 triệu lít xăng E10 được tiêu thụ
Theo báo cáo của Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), tính đến ngày 8/6, sau 8 ngày triển khai kinh doanh xăng sinh học E10 trên toàn quốc, lượng tiêu thụ E10 đã đạt khoảng 290 triệu lít, tương đương hơn 36 triệu lít/ngày. Cùng thời điểm, thị trường cũng tiêu thụ khoảng 20 triệu lít xăng E5, nâng tổng lượng xăng bán ra lên khoảng 310 triệu lít.
Đáng chú ý, so với giai đoạn trước khi xăng E10 được phân phối đồng loạt, tổng mức tiêu thụ xăng trên thị trường không ghi nhận biến động lớn. Điều này cho thấy người tiêu dùng đã bước đầu chấp nhận loại nhiên liệu mới mà không gây xáo trộn đáng kể đến nhu cầu sử dụng.
Từ thực tế này có thể thấy, việc đưa xăng sinh học E10 vào sử dụng không chỉ đơn thuần là thay đổi một loại nhiên liệu tại các cây xăng, mà còn là bước đi cụ thể trong lộ trình chuyển đổi xanh của Việt Nam.

Đối với Hà Nội, địa phương có mật độ phương tiện giao thông thuộc nhóm cao nhất cả nước, mọi thay đổi liên quan đến nhiên liệu đều tác động trực tiếp đến chi phí đi lại, hoạt động vận tải, dịch vụ đô thị cũng như tâm lý và quyền lợi của người tiêu dùng.
Ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công cho biết: Hiện có hơn 60 quốc gia trên thế giới đang sử dụng nhiên liệu sinh học ở các mức độ khác nhau.
Theo ông, Mỹ là quốc gia sử dụng nhiên liệu sinh học sớm và phổ biến nhất. Từ những năm 1980, Mỹ đã bắt đầu triển khai xăng sinh học. Bên cạnh Mỹ, nhiều quốc gia và khu vực khác cũng đang đẩy mạnh sử dụng nhiên liệu sinh học như Brazil, Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc, Hàn Quốc.
Trong khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là trường hợp có nhiều nét tương đồng với Việt Nam khi đã triển khai xăng E10 từ nhiều năm trước và hiện đang thúc đẩy lộ trình sử dụng xăng E20.
Ông Đào Duy Anh cho biết việc phát triển xăng sinh học mang lại nhiều lợi ích đồng thời. Trước hết, đây là giải pháp góp phần giảm phát thải, bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết về chuyển đổi xanh.
Bên cạnh đó, việc phát triển nhiên liệu sinh học còn tạo ra một ngành kinh tế mới với chuỗi giá trị tương đối hoàn chỉnh, từ phát triển vùng nguyên liệu, sản xuất ethanol, pha chế nhiên liệu đến phân phối và tiêu dùng sản phẩm.
"Đây không chỉ là câu chuyện năng lượng mà còn là câu chuyện phát triển kinh tế, nông nghiệp và công nghiệp chế biến", ông nói.
Theo ông Đào Duy Anh, ý nghĩa quan trọng hơn của nhiên liệu sinh học nằm ở việc tăng cường an ninh năng lượng quốc gia trong bối cảnh thế giới liên tục xuất hiện các biến động địa chính trị và xung đột kéo dài.
"Những biến động của thị trường năng lượng thế giới trong thời gian qua cho thấy nếu xảy ra đứt gãy nguồn cung, khả năng bảo đảm nhiên liệu cho sản xuất và tiêu dùng trong nước sẽ gặp nhiều thách thức", ông nhận định.
Ông cho rằng nếu nguồn cung nhiên liệu từ bên ngoài bị gián đoạn, tác động đối với nền kinh tế sẽ rất lớn. Hoạt động sản xuất, vận tải và lưu thông hàng hóa đều phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu ổn định.
Vì vậy, phát triển các nguồn nhiên liệu thay thế, trong đó có nhiên liệu sinh học, là một giải pháp quan trọng nhằm tăng khả năng tự chủ năng lượng, bảo đảm ổn định thị trường trong nước và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Theo ông Đào Duy Anh, Việt Nam có lợi thế là quốc gia nông nghiệp với khả năng phát triển các vùng nguyên liệu như sắn, ngô và nhiều loại cây trồng khác phục vụ sản xuất ethanol. Điều này giúp giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu, đồng thời tạo thêm giá trị gia tăng cho khu vực nông nghiệp.
"Nhiên liệu sinh học là nguồn năng lượng tái tạo được tạo ra từ chính các loại cây trồng của chúng ta. Nếu phát triển tốt, đây sẽ là một trong những giải pháp quan trọng giúp bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, ổn định nguồn cung cho nền kinh tế và góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn", ông Đào Duy Anh nhấn mạnh.
Được kiểm chứng qua nhiều thập kỷ
Đồng tình với nhận định này, GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng: Việc Mỹ sử dụng xăng sinh học từ rất sớm cho thấy loại nhiên liệu này có những lợi ích rõ ràng về kinh tế, môi trường và an ninh năng lượng. Đây không phải là một xu hướng mới xuất hiện gần đây mà đã được kiểm chứng qua nhiều thập kỷ thực tiễn.
Bên cạnh đó, trường hợp của Thái Lan cũng mang lại nhiều bài học tham khảo cho Việt Nam.
"Điều khiến tôi rất chú ý là Thái Lan có điều kiện khí hậu, môi trường và nhiều yếu tố tương đồng với Việt Nam nhưng hiện nay họ đã sử dụng E15, E20 với tỷ lệ phối trộn cao hơn rất nhiều. Đây là những con số rất thuyết phục", ông Cường nhận định.
Theo ông, những kinh nghiệm quốc tế cho thấy người tiêu dùng hoàn toàn có thể yên tâm hơn về việc sử dụng xăng sinh học. Trong khi đó, lợi ích của loại nhiên liệu này đã được nhìn thấy khá rõ, đặc biệt là khả năng tăng cường tính tự chủ về nguồn nguyên liệu và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu.
Ông cho rằng trong bối cảnh thế giới liên tục xuất hiện các biến động địa chính trị, vấn đề tự chủ năng lượng ngày càng trở nên quan trọng đối với mỗi quốc gia.
"Thời gian qua, Việt Nam đã làm khá tốt bài toán bảo đảm nguồn cung năng lượng. Dù thế giới có nhiều biến động nhưng giá cả trong nước nhìn chung vẫn được kiểm soát tương đối ổn định. Đây là một thành công rất đáng ghi nhận", ông nói.
Theo GS.TS Hoàng Văn Cường, phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng mà còn mở ra cơ hội thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, phát triển vùng nguyên liệu và khôi phục các dự án, nhà máy sản xuất ethanol đã được đầu tư trước đây.
"Nếu phát triển đúng hướng, đây sẽ là cơ hội để hình thành thêm những ngành kinh tế mới, tạo động lực cho khu vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến và nâng cao mức độ tự chủ của nền kinh tế", ông Cường nhấn mạnh.







