Hòa giải trực tuyến: Cần bảo vệ dữ liệu cá nhân và phù hợp từng địa bàn
Về hòa giải trực tuyến, đại biểu đề nghị cần sự đồng thuận của các bên, kiểm soát người tham gia, ghi âm, ghi hình, bảo vệ dữ liệu cá nhân và phải phù hợp từng địa bàn.
Quan tâm hơn đến kinh phí cho hòa giải
Sáng 10/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi).

Đại biểu Nguyễn Đặng Ân - đoàn Lạng Sơn
Cơ bản tán thành với sự cần thiết sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở và đánh giá cao sự cầu thị của cơ quan chủ trì soạn thảo, đại biểu Quốc hội Nguyễn Đặng Ân - đoàn Lạng Sơn cho biết, qua báo cáo tổng kết thi hành Luật, tỷ lệ hòa giải thành ở cơ sở trên phạm vi cả nước giai đoạn 2014 - 2025 đạt trung bình khoảng 81,92%.
Điều này cho thấy, đây vẫn là một phương thức giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp có hiệu quả tương đối cao ngay từ cộng đồng dân cư, không chỉ là phương thức giải quyết tranh chấp mà còn là kênh tuyên truyền, phổ biến pháp luật trực tiếp, gần dân, phù hợp với đặc điểm văn hóa, phong tục và quan hệ cộng đồng, nhất là tại địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bên cạnh đó, đại biểu Nguyễn Đặng Ân đề nghị quan tâm hơn đến kinh phí cho hòa giải ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới.
Theo đại biểu, một tổ hòa giải ở địa bàn đô thị, dân cư tập trung và một tổ hòa giải ở xã miền núi, biên giới, địa bàn rộng, dân cư phân tán, nhiều thành phần dân tộc rõ ràng có điều kiện hoạt động rất khác nhau. Chi phí đi lại khác nhau; yêu cầu về ngôn ngữ, tài liệu, tập huấn khác nhau; khả năng tiếp cận công nghệ cũng khác nhau.
Do đó, đề nghị khi hoàn thiện Điều 6 về kinh phí và Điều 32 về trách nhiệm của chính quyền địa phương, cần bảo đảm một nguyên tắc: Phân bổ nguồn lực phải tính đến đặc điểm địa bàn và chi phí thực tế của hoạt động hòa giải, không nên chỉ áp dụng một cơ chế bình quân.
Về chuyển đổi số trong hòa giải ở cơ sở, đại biểu Nguyễn Đặng Ân đề nghị xác định rõ nguyên tắc: Nền tảng phải thống nhất nhưng phương thức và lộ trình triển khai phải phù hợp với từng địa bàn.
Đại biểu đoàn Lạng Sơn tán thành việc xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và nền tảng số về hòa giải ở cơ sở thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Đây là hướng cần thiết để phục vụ quản lý, thống kê, chia sẻ dữ liệu và giảm dần phương thức quản lý thủ công.
Nhưng theo đại biểu, chuyển đổi số trong lĩnh vực này cần đặc biệt tránh phát sinh thêm nhiều việc cho cán bộ cơ sở và hòa giải viên phải dành nhiều thời gian nhập dữ liệu, hoàn thiện biểu mẫu hoặc xử lý những yêu cầu kỹ thuật không cần thiết.
Đặc biệt, hòa giải trực tuyến không nên được hiểu là một mô hình bắt buộc phải triển khai đồng loạt. Tại những địa bàn đủ điều kiện, đây là phương thức rất hữu ích; nhưng ở vùng sâu, vùng xa, nơi hạ tầng, thiết bị và kỹ năng số còn hạn chế thì hòa giải trực tiếp vẫn phải là phương thức thuận lợi, bình đẳng và đầy đủ về giá trị pháp lý trừ trường hợp hai bên quá xa cách về địa lý.
Vì vậy, ông Ân đề nghị khi quy định chi tiết cần đạt ba yêu cầu: Một nền tảng dùng chung; dữ liệu tối thiểu, thực sự cần thiết; và lộ trình áp dụng phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Để người dân tiếp cận hòa giải dễ hơn, hòa giải viên làm việc thuận lợi hơn và mâu thuẫn được giải quyết sớm hơn từ cộng đồng.
Hòa giải trực tuyến phải có sự đồng thuận
Tham gia góp ý kiến, đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm - đoàn Lâm Đồng cho biết, Điều 25 đã cho phép hòa giải bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp. Quy định này rất phù hợp với thực tiễn hiện nay.

Đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm - đoàn Lâm Đồng.
Đại biểu dẫn ví dụ, một gia đình ở địa phương có tranh chấp lối đi chung, một người con đang làm việc tại TP. Hồ Chí Minh, một người đang ở địa phương. Nếu bắt buộc tất cả phải trở về để gặp trực tiếp thì có thể phải chờ đến vài tuần. Nhưng bằng một cuộc họp trực tuyến, tổ hòa giải có thể kết nối ngay các bên trong vài ngày. Công nghệ giúp rút ngắn khoảng cách và giải quyết mâu thuẫn sớm hơn.
Tuy nhiên, đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm cho rằng, cũng chính ví dụ đó cũng đặt ra một vấn đề khác. Ông nêu giả sử trong cuộc hòa giải trực tuyến, một bên âm thầm dùng điện thoại khác để ghi hình, sau đó cắt một đoạn phát biểu đưa lên mạng xã hội hoặc gửi vào nhóm dân cư. Hoặc phía sau màn hình có người thứ 3 đang nghe toàn bộ câu chuyện nhưng bên còn lại không hề biết. Hoặc hình ảnh, giọng nói, thông tin về tài sản, gia đình, nguyên nhân tranh chấp được lưu lại và chuyển cho người khác.
"Khi đó, một cuộc hòa giải vốn được tổ chức hàn gắn quan hệ lại có khi trở thành nguyên nhân của mâu thuẫn mới" - ông Liêm nói và cho hay, đây chính là điểm khác biệt căn bản giữa hòa giải trực tiếp và hòa giải trên môi trường số.
Trong một cuộc gặp gỡ trực tiếp tại thôn, tổ dân phố, hòa giải viên có thể nhìn thấy ai đang có mặt trong phòng. Nhưng trong môi trường trực tuyến, không thể biết ai đang ở phía sau màn hình, ai đang ghi âm ghi hình và dữ liệu sẽ đi đâu sau cuộc hòa giải kết thúc.
Vì vậy, đại biểu đề nghị không nên chỉ quy định hình thức hòa giải giao toàn bộ cho Chính phủ hướng dẫn, mà cần ghi ngay trong luật một số nguyên tắc tối thiểu như: Hòa giải trực tuyến phải có sự đồng thuận của các bên. Không nên vì thuận lợi về công nghệ mà biến hình thức trực tuyến thành một lựa chọn áp đặt đối với người dân.
Cùng với đó, phải bảo đảm xác định đúng người tham gia và kiểm soát người được phép có mặt trong phiên hòa giải, bảo đảm các bên biết rõ mình đang trao đổi với ai, ai đang được tiếp cận những nội dung hòa giải.
Việc ghi âm ghi hình, sao chép lưu trữ hoặc cung cấp nội dung trong phiên hòa giải cho người khác phải có sự đồng ý của các bên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đồng thời phải tuân thủ yêu cầu về bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin.
"Ở đây, vấn đề không đơn thuần là đưa một cuộc hòa giải lên môi trường số. Điều quan trọng hơn là khi đưa hòa giải lên môi trường số, phải giữ được những giá trị làm nên hiệu quả cuộc hòa giải từ cơ sở, đó là tự nguyện, kín đáo, chân thành và tin cậy" - ông Liêm nói.
Vì vậy, đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung trực tiếp tại điều 25 các nguyên tắc về sự đồng thuận của các bên, kiểm soát người tham gia, ghi âm, ghi hình và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hòa giải trực tuyến.
"Làm được như vậy vừa khuyến khích được chuyển đổi số, vừa phòng ngừa được các rủi ro thực tế, không để một công cụ được tạo ra để hòa giải mâu thuẫn lại vô tình trở thành nguyên nhân của mâu thuẫn khác" - đại biểu nêu.
Bổ sung quy định độ tuổi của hòa giải viên
Tham gia góp ý kiến tiêu chuẩn hòa giải viên ở cơ sở, đại biểu Phạm Văn Hoà - đoàn Đồng Tháp bày tỏ sự đồng tình với các tiêu chuẩn được đề xuất. Tuy nhiên, ông đề nghị bổ sung quy định về độ tuổi của hòa giải viên.

Đại biểu Phạm Văn Hòa - đoàn Đồng Tháp.
Theo đại biểu Phạm Văn Hòa, bên cạnh các tiêu chí như già làng, trưởng bản, người có năng lực, trình độ và uy tín, độ tuổi cũng là yếu tố cần được xem xét trong tiêu chuẩn hòa giải viên.
"Tôi đề nghị nên có quy định về tiêu chuẩn độ tuổi. Theo tôi, hòa giải viên nên ở độ tuổi khoảng 70 trở lại; trên 70 tuổi thì không nên quy định là hòa giải viên" - đại biểu Phạm Văn Hòa nêu.
Đại biểu đoàn Đồng Tháp cho rằng, đối với những người cao tuổi, là già làng, trưởng bản hoặc người có uy tín trong cộng đồng, nếu vẫn có năng lực và được tín nhiệm thì có thể mời tham gia các hoạt động hòa giải.
Về hình thức hòa giải trực tuyến và trực tiếp, đại biểu Phạm Văn Hòa cho rằng, hòa giải trực tuyến còn gặp nhiều khó khăn và khó đạt được hiệu quả như mong muốn.
Theo đại biểu, ngay cả việc gặp mặt trực tiếp để trao đổi, phân tích và thuyết phục các bên trong quá trình hòa giải đã không dễ, thì hình thức trực tuyến càng khó đạt kết quả. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng, điều kiện kỹ thuật tại thôn, bản, xã vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu tổ chức hòa giải trực tuyến.
Do đó, đại biểu Phạm Văn Hòa đề nghị cân nhắc, ưu tiên hình thức hòa giải trực tiếp, thay vì hình thức hòa giải trực tuyến.
Đại biểu Nguyễn Đặng Ân - đoàn Lạng Sơn nhấn mạnh, hòa giải ở cơ sở là một thiết chế rất đặc biệt. Nhà nước tạo khuôn khổ pháp lý và bảo đảm điều kiện, nhưng sức sống của nó lại nằm ở uy tín của hòa giải viên, sự tự nguyện của người dân và những mối quan hệ trong cộng đồng.







