• :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Giữ chủ quyền trên không gian mạng: Từ tư duy đến hành động

Từ cảnh báo về nguy cơ mất an toàn dữ liệu đến yêu cầu xây dựng “thế trận an ninh mạng chủ động, toàn diện”, Chỉ thị số 57-CT/TW đã đặt ra một định hướng chiến lược rõ ràng cho bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian số. Nhưng để biến định hướng ấy thành năng lực phòng thủ thực chất vẫn là bài toán lớn, đòi hỏi sự đồng bộ về công nghệ, nhân lực, thể chế pháp lý và khả năng tự chủ dữ liệu trong bối cảnh các nguy cơ an ninh mạng ngày càng phức tạp và khó lường.

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây hay internet vạn vật đang làm thay đổi căn bản phương thức quản trị quốc gia, vận hành nền kinh tế và đời sống xã hội. Nếu như trước đây, vấn đề chủ quyền quốc gia chủ yếu được đặt ra trên các không gian truyền thống như đất liền, biển và vùng trời thì hiện nay, không gian mạng đã trở thành một “không gian chiến lược” mới, gắn trực tiếp với an ninh quốc gia và năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia

Bảo đảm an ninh dữ liệu là nền tảng để xây dựng niềm tin số và phát triển kinh tế số bền vững. Ảnh: M.H

Đó cũng là lý do Chỉ thị số 57-CT/TW của Ban Bí thư ra đời trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được thúc đẩy mạnh mẽ, với yêu cầu tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong toàn hệ thống chính trị.

Điểm rất đáng chú ý của Chỉ thị là yêu cầu chuyển dịch tư duy từ “phòng thủ bị động” sang “phòng thủ chủ động”, “phòng thủ tích cực”, xây dựng “thế trận an ninh mạng chủ động, toàn diện”.

Nhìn nhận về vấn đề này, Đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng, Ủy viên Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội cho rằng, đây là bước chuyển rất quan trọng về tư duy chiến lược.

Theo ông, trong kỷ nguyên số, dữ liệu đã trở thành “tài nguyên chiến lược”,“hạ tầng mềm” của mọi hạ tầng phát triển. Nếu để dữ liệu bị xâm phạm, chi phối hoặc thao túng thì không chỉ hoạt động kinh tế bị ảnh hưởng mà cả hệ thống quản trị quốc gia cũng có thể đối mặt với những rủi ro lớn.

“Không có an ninh dữ liệu thì không thể có niềm tin số; mà thiếu niềm tin số thì rất khó xây dựng nền kinh tế số phát triển bền vững”, Đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai nhấn mạnh.

Theo ông, điều đáng lưu ý hiện nay là nhiều cơ quan, tổ chức và cả người dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về giá trị của dữ liệu cũng như những hệ lụy khi dữ liệu bị lộ lọt hoặc bị khai thác trái phép.

“Có thời điểm chúng ta mới tập trung nhiều vào tốc độ chuyển đổi số mà chưa dành sự quan tâm tương xứng cho an ninh dữ liệu. Nhưng càng phát triển mạnh môi trường số thì yêu cầu bảo vệ dữ liệu càng phải được đặt lên hàng đầu”, Đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai nói.

Nhìn vào thực tế hiện nay, những cảnh báo ấy không hề xa vời. Theo phân tích của Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp không gian mạng Việt Nam (VNCERT), chỉ tính riêng từ đầu năm 2026 đến nay đã ghi nhận hơn 2 triệu cảnh báo tấn công mạng nhằm vào Việt Nam, trong đó gần 50% có sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo.

dbqh-duong-khac-mai-2.png

Đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai. Ảnh: Phạm Thắng.

Các hình thức tấn công mạng ngày càng tinh vi, từ đánh cắp dữ liệu, phát tán mã độc, giả mạo danh tính đến các thủ đoạn Deepfake sử dụng AI để tạo hình ảnh, giọng nói giả phục vụ lừa đảo hoặc thao túng thông tin.

Trong khi đó, dữ liệu cá nhân đang trở thành “mỏ vàng” của tội phạm công nghệ cao. Hàng trăm triệu bản ghi dữ liệu liên quan đến tài chính, ngân hàng, giáo dục, y tế, bảo hiểm… bị mua bán trái phép trên các diễn đàn ngầm.

Theo số liệu của Bộ Công an, từ năm 2020 đến năm 2025 đã xảy ra hơn 24.000 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng, gây thiệt hại gần 40.000 tỷ đồng.

Đáng lo ngại hơn, nhiều đối tượng hiện nay sử dụng AI để tự động hóa quá trình dò quét lỗ hổng, phát tán mã độc hoặc tạo lập các kịch bản lừa đảo tinh vi với quy mô lớn hơn trước rất nhiều.

Những con số ấy cho thấy, bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng giờ đây không còn là câu chuyện của tương lai, mà là yêu cầu cấp thiết của hiện tại.

Tự chủ công nghệ – nền tảng của “lá chắn số” quốc gia

Một trong những vấn đề được các chuyên gia và Đại biểu Quốc hội đặc biệt nhấn mạnh hiện nay là năng lực tự chủ về công nghệ.

Đại biểu Quốc hội, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - Thiếu tướng Vũ Hùng Vương, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm (Bộ Công an), cho rằng, muốn giữ vững chủ quyền số thì trước hết phải làm chủ được công nghệ.

Theo ông, thực tế hiện nay cho thấy nhiều hệ thống thông tin quan trọng vẫn đang phụ thuộc vào thiết bị, phần mềm và nền tảng công nghệ nước ngoài. Trong khi đó, nguy cơ bị cài cắm mã độc, thu thập dữ liệu trái phép hoặc khai thác lỗ hổng từ chuỗi cung ứng công nghệ là rất lớn.

“Chúng ta không thể bảo vệ chủ quyền số bằng công nghệ đi thuê. Càng phụ thuộc thì nguy cơ bị động càng cao”, Thiếu tướng Vũ Hùng Vương nhấn mạnh.

thieu-tuong-vu-hung-vuong-2-large.png

Thiếu tướng Vũ Hùng Vương. Ảnh: Xuân Quý.

Ông cho rằng, định hướng trong Chỉ thị 57-CT/TW về ưu tiên phát triển các sản phẩm, giải pháp công nghệ “Make in Vietnam”, làm chủ công nghệ lõi như mật mã, chip bảo mật hay thuật toán mật mã kháng lượng tử là bước đi mang ý nghĩa chiến lược lâu dài.

Đây không đơn thuần là bài toán phát triển khoa học công nghệ mà còn là vấn đề an ninh quốc gia trong bối cảnh mới.

Theo Thiếu tướng Vũ Hùng Vương, cùng với đầu tư hạ tầng kỹ thuật, Việt Nam cần sớm hình thành hệ sinh thái an ninh mạng nội địa đủ mạnh, có khả năng chủ động phát hiện, cảnh báo sớm, ứng phó và phục hồi sau các sự cố an ninh mạng.

Ông cũng cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy “ứng phó sự cố” sang “quản trị rủi ro chủ động”, xây dựng hệ thống giám sát an ninh mạng theo thời gian thực, vận hành liên tục 24/7.

Ở góc độ khác, Đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai cho rằng, tự chủ công nghệ còn gắn chặt với quyền kiểm soát dữ liệu quốc gia. “Dữ liệu là tài nguyên chiến lược. Nếu hạ tầng xử lý và lưu trữ dữ liệu phụ thuộc quá lớn vào bên ngoài thì rất khó bảo đảm an toàn dữ liệu trong dài hạn”, Đại biểu Dương Khắc Mai bày tỏ quan điểm.

Theo ông, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu quốc gia và thúc đẩy liên thông dữ liệu trên phạm vi toàn quốc là bước đi quan trọng để khắc phục tình trạng phân tán dữ liệu, nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ dữ liệu quốc gia.

Các chuyên gia cũng cảnh báo rằng trong bối cảnh công nghệ lượng tử phát triển nhanh, nhiều phương thức mã hóa hiện nay có thể đối mặt nguy cơ bị phá vỡ trong tương lai gần. Vì vậy, việc nghiên cứu các thuật toán mật mã kháng lượng tử như định hướng của Chỉ thị số 57-CT/TW là yêu cầu cần được chuẩn bị từ sớm.

Một vấn đề khác cũng được đặt ra là khả năng làm chủ dữ liệu quốc gia trong quá trình hợp tác quốc tế và sử dụng các nền tảng xuyên biên giới.

Theo Thiếu tướng Vũ Hùng Vương, hội nhập quốc tế là cần thiết nhưng phải luôn bảo đảm nguyên tắc độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

“Tiếp thu công nghệ tiên tiến là cần thiết, nhưng phải có khả năng kiểm soát và làm chủ. Nếu để phụ thuộc quá lớn thì nguy cơ mất an toàn sẽ rất khó lường”, Thiếu tướng Vũ Hùng Vương nói.

Điểm nghẽn lớn nhất vẫn là nguồn nhân lực và cơ chế thu hút nhân tài

Nếu công nghệ là “lá chắn cứng” thì con người chính là yếu tố quyết định sức mạnh thực sự của hệ thống phòng thủ số.

Đại biểu Quốc hội Vũ Hùng Vương và Đại biểu Dương Khắc Mai đều cho rằng, nguồn nhân lực an ninh mạng hiện nay vẫn là “điểm nghẽn” lớn nhất.

Theo Thiếu tướng Vũ Hùng Vương, lĩnh vực an ninh mạng thay đổi rất nhanh, trong khi công tác đào tạo, cập nhật kiến thức và chính sách sử dụng nhân lực chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn.

“Công nghệ thay đổi từng ngày. Tội phạm mạng cũng liên tục thay đổi phương thức hoạt động. Nếu đội ngũ chuyên gia không được đào tạo chuyên sâu và cập nhật thường xuyên thì rất khó theo kịp”, Thiếu tướng Vũ Hùng Vương nhìn nhận.

khong-gian-mang-2.png

Theo định hướng trong Chỉ thị 57, Việt Nam đặt mục tiêu cả nước có khoảng 10.000 chuyên gia an ninh mạng vào năm 2030. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu này là bài toán không dễ, bởi lĩnh vực an ninh mạng hiện đang cạnh tranh nhân lực rất khốc liệt trên phạm vi toàn cầu.

Nhiều chuyên gia giỏi có xu hướng làm việc cho các tập đoàn công nghệ quốc tế hoặc doanh nghiệp tư nhân với mức thu nhập và điều kiện nghiên cứu hấp dẫn hơn. Vì vậy, theo Thiếu tướng Vũ Hùng Vương, cần có cơ chế đặc thù để thu hút và giữ chân nhân tài.

“Không thể áp dụng tư duy quản lý nhân lực thông thường cho lĩnh vực an ninh mạng. Phải có cơ chế linh hoạt hơn về thu nhập, môi trường nghiên cứu, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển để người giỏi có thể toàn tâm cống hiến”, Thiếu tướng Vũ Hùng Vương nhấn mạnh.

Theo ông, bên cạnh đào tạo trong nước, cần mở rộng hợp tác quốc tế về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; tạo điều kiện để chuyên gia trẻ được tiếp cận công nghệ mới, tham gia các diễn đàn, chương trình nghiên cứu quốc tế.

Nhìn nhận ở góc độ khác, Đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai nhấn mạnh rằng, an ninh mạng không chỉ là câu chuyện của lực lượng chuyên trách mà cần trở thành kỹ năng nền tảng của toàn xã hội. Đại biểu dẫn thực tế nhiều vụ việc lộ lọt dữ liệu thời gian qua bắt nguồn từ chính sự chủ quan của con người.

“Trong môi trường số, chỉ một thao tác bất cẩn cũng có thể trở thành cánh cửa mở cho tội phạm mạng”, ông nói.

Theo Đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai, việc đưa kiến thức an ninh mạng vào hệ thống giáo dục quốc dân, bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, công chức và nâng cao nhận thức cho người dân là giải pháp căn cơ để hình thành “văn hóa an ninh mạng” trong xã hội.

“Khi mỗi người dân có ý thức tự bảo vệ dữ liệu của mình thì đó cũng chính là góp phần bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng”, Đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai phân tích.

Theo các chuyên gia, “thế trận an ninh nhân dân” trên không gian mạng sẽ chỉ thực sự vững chắc khi người dân không còn đứng ngoài cuộc, mà trở thành chủ thể tham gia bảo vệ an ninh mạng bằng chính ý thức và hành động của mình.

Từ chủ trương chiến lược đến hành động thực chất

Một trong những yêu cầu lớn nhất hiện nay là làm sao để các định hướng trong Chỉ thị số 57-CT/TW được triển khai hiệu quả, tránh tình trạng hình thức.

Theo các chuyên gia, để xây dựng “lá chắn số” quốc gia vững chắc, cần đồng thời hoàn thiện cả công nghệ, con người và thể chế pháp lý.

Đại biểu Quốc hội Dương Khắc Mai cho rằng, hệ thống pháp luật về an ninh mạng, dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân thời gian qua đã có nhiều bước tiến quan trọng, song vẫn cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển rất nhanh của công nghệ số.

“Công nghệ luôn đi trước pháp luật. Nếu không kịp thời hoàn thiện cơ chế quản lý thì sẽ rất dễ xuất hiện khoảng trống pháp lý”, ông nói.

Theo ông, việc nghiên cứu xây dựng Luật An ninh dữ liệu sẽ góp phần hoàn thiện cơ chế quản trị dữ liệu toàn diện, đồng bộ và thống nhất hơn.

Trong khi đó, Thiếu tướng Vũ Hùng Vương nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trên không gian mạng.

Thiếu tướng Vũ Hùng Vương cho rằng, cần phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước, tránh chồng chéo hoặc bỏ trống lĩnh vực quản lý; đồng thời, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong bảo đảm an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu.

Ông cũng cho rằng, trong bối cảnh tội phạm mạng mang tính xuyên biên giới ngày càng rõ nét, Việt Nam cần tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế về an ninh mạng, chia sẻ thông tin, phối hợp điều tra và hỗ trợ tư pháp.

Việc Việt Nam tham gia Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng năm 2025 (Công ước Hà Nội) được đánh giá là bước tiến quan trọng, thể hiện vai trò và trách nhiệm của Việt Nam trong xây dựng khuôn khổ pháp lý toàn cầu về an ninh mạng.

Theo các chuyên gia, điều quan trọng hiện nay không chỉ là ban hành chủ trương, chính sách mà còn là tổ chức thực hiện một cách đồng bộ, thực chất và liên tục. Bởi, nếu chỉ dừng ở nhận thức mà thiếu hành động cụ thể thì rất khó hình thành được năng lực phòng thủ đủ mạnh trên không gian mạng. Cần có sự kết hợp đồng bộ giữa con người, thể chế, công nghệ, lực lượng và nhận thức xã hội.

Theo đó, trước hết, phải có sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu. Đây là quan điểm rất rõ của Chỉ thị 57. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về công tác này tại cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Thứ hai là xây dựng lực lượng chuyên trách đủ mạnh. Trong đó, lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân giữ vai trò nòng cốt trong bảo vệ an ninh mạng quốc gia, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương để hình thành thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng. Thứ ba là phải xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại và có khả năng tự chủ cao. Thứ tư là xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất và đồng bộ. Và cuối cùng, điều rất quan trọng là phải phát huy “thế trận lòng dân” trên không gian mạng. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao cảnh giác trước các thông tin xấu độc, sai trái; có ý thức bảo vệ dữ liệu cá nhân; sử dụng không gian mạng văn minh, có trách nhiệm. Khi toàn xã hội cùng tham gia bảo vệ không gian mạng thì “lá chắn số” quốc gia mới thực sự bền vững.

Từ tư duy chiến lược được xác lập trong Chỉ thị số 57-CT/TW đến hành động thực tiễn là một quá trình đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt và lâu dài. Bởi, trong kỷ nguyên số, giữ vững chủ quyền quốc gia không chỉ là bảo vệ biên giới hữu hình, mà còn là bảo vệ dữ liệu, bảo vệ niềm tin và bảo vệ tương lai phát triển của đất nước trên không gian mạng. 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết