Việt Nam - Australia hợp tác nghiên cứu 10 công nghệ chiến lược với ngân sách 25 tỷ đồng
Với nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước tối đa 25 tỷ đồng, Chương trình hợp tác nghiên cứu Việt Nam - Australia về công nghệ chiến lược giai đoạn 2026-2028 hướng tới mục tiêu dài hạn là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và kết nối học thuật quốc tế.
Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành Quyết định số 3322/QĐ-BKHCN, chính thức phê duyệt Chương trình hợp tác nghiên cứu Việt Nam - Australia về công nghệ chiến lược giai đoạn 2026-2028. Với nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước tối đa 25 tỷ đồng, chương trình hướng tới mục tiêu dài hạn là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và kết nối học thuật quốc tế.
Chương trình giai đoạn 2026-2028 sẽ được Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai xoay quanh ba trụ cột hoạt động chính: tài trợ nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu; và thúc đẩy trao đổi học thuật, kết nối hợp tác song phương.
Tập trung toàn lực vào 10 mũi nhọn định hình tương lai
Điểm nhấn quan trọng nhất của chương trình là việc hướng toàn bộ nguồn lực vào 10 nhóm công nghệ chiến lược mang tính ứng dụng cao. Cụ thể, các đề tài nghiên cứu sẽ tập trung giải quyết bài toán thực tiễn trong lĩnh vực công nghệ số (bao gồm trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, điện toán biên, Internet vạn vật và chuỗi khối); mạng di động thế hệ sau; robot và tự động hóa.

Việt Nam - Australia hợp tác nghiên cứu 10 công nghệ chiến lược với ngân sách 25 tỷ đồng - Ảnh: Gia Hân.
Cùng với đó là các mũi nhọn về công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; năng lượng và vật liệu tiên tiến; chip bán dẫn; an ninh mạng và lượng tử; công nghệ biển, đại dương và lòng đất; hàng không, vũ trụ; và hệ thống đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị.
Để đảm bảo chất lượng khoa học và tính khả thi, các đề tài tham gia sẽ được tuyển chọn khắt khe theo nguyên tắc cạnh tranh, công khai, minh bạch thông qua hình thức đánh giá đồng cấp. Một tiêu chí bắt buộc là mỗi đề tài nghiên cứu đều phải có sự tham gia trực tiếp của đối tác đến từ Australia.
Về phía Việt Nam, các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học công nghệ hoặc doanh nghiệp có đủ tư cách pháp nhân và năng lực đều có thể trở thành tổ chức chủ trì. Tương ứng, đối tác Australia sẽ bao gồm các trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp và các tổ chức chuyên về nghiên cứu, phát triển công nghệ hoặc đào tạo.
Khuyến khích doanh nghiệp đối ứng và đẩy mạnh nhân lực cấp cao
Không để các nghiên cứu chỉ nằm trên giấy, cơ quan quản lý đặc biệt khuyến khích doanh nghiệp của cả hai quốc gia đóng góp nguồn lực đối ứng, cùng tham gia vào quá trình nghiên cứu, thử nghiệm.
Từ bước đệm này, doanh nghiệp sẽ trực tiếp tiếp nhận chuyển giao và thương mại hóa kết quả cuối cùng. Việc thu hút thêm sự đồng hành, tư vấn và đồng tài trợ từ các tổ chức quốc tế, quỹ khoa học, quỹ đầu tư hay các hiệp hội nghề nghiệp cũng được xem là một đòn bẩy quan trọng để mở rộng quy mô chương trình.
Song song với hoạt động nghiên cứu (R&D), bài toán nhân lực cũng được ưu tiên thông qua các hoạt động kết nối học thuật đa dạng. Trong giai đoạn ba năm tới, chương trình dự kiến sẽ tổ chức 2 trường hè chuyên đề cùng 3-5 hội thảo khoa học quốc tế.
Nhà nước sẽ có cơ chế hỗ trợ thiết thực cho các nghiên cứu sau tiến sĩ, nghiên cứu sinh và học viên cao học khi họ trực tiếp tham gia vào các nhiệm vụ. Dự kiến, khoảng 3-5 giáo sư, chuyên gia hàng đầu của Australia sẽ được mời sang Việt Nam để nghiên cứu ngắn hạn, giảng bài chuyên đề, qua đó truyền đạt kinh nghiệm và thắt chặt quan hệ song phương.
Cơ chế quản lý phân minh, đánh giá theo chuẩn quốc tế
Để đảm bảo nhịp độ triển khai và hiệu quả của từng đồng vốn đầu tư, cơ chế quản lý chương trình được phân công rõ ràng cho các đầu mối chuyên trách. Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) sẽ trực tiếp triển khai hợp phần tài trợ cho các nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Trong khi đó, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông thông qua Trung tâm Công nghệ Chiến lược Việt Nam - Australia (AVSTC) sẽ chủ trì toàn bộ mảng đào tạo, trao đổi học thuật và kết nối nghiên cứu.
Ở cấp độ vĩ mô, Vụ Hợp tác quốc tế sẽ làm đầu mối phối hợp với Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT), đồng thời chịu trách nhiệm theo dõi, đánh giá toàn bộ chương trình theo mô hình chuẩn IOOI (Đầu vào - Hoạt động - Đầu ra - Tác động).
Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng và cơ chế phối hợp mở, Chương trình hợp tác nghiên cứu công nghệ chiến lược Việt Nam - Australia giai đoạn 2026-2028 được kỳ vọng sẽ tạo ra bước ngoặt trong việc hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh.
Đây sẽ là nền tảng vững chắc để giới khoa học hai nước cùng tạo ra những tài sản trí tuệ chung có giá trị, nhanh chóng đưa các kết quả đột phá vào ứng dụng thực tiễn và thương mại hóa thành công trong tương lai gần.







