Doanh nghiệp khí Việt Nam trước cơ hội tham gia chuỗi giá trị LNG quốc tế
Nhu cầu LNG tăng mạnh cùng định hướng phát triển điện khí mở ra cơ hội để doanh nghiệp khí Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị LNG khu vực và quốc tế.
Dư địa hợp tác
Ngày 14/1, Báo Đại đoàn kết phối hợp cùng các đối tác tổ chức Diễn đàn "Kết nối doanh nghiệp khí Việt Nam với chuỗi cung ứng năng lượng quốc tế".
Phát biểu tại diễn đàn, TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam nhấn mạnh, trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng toàn cầu, khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) tiếp tục khẳng định vai trò là nhiên liệu chuyển tiếp, đóng vai trò bắc cầu trong lộ trình giảm phát thải. Trữ lượng khí và sự phát triển của công nghệ LNG đang bảo đảm tính ổn định trong cân đối cung cầu trên phạm vi toàn cầu.

TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam phát biểu tại diễn đàn.
Hiện nay, thị trường LNG đã hình thành các trung tâm giá tham chiếu quốc tế như JKM, TTF và Henry Hub. Trong đó, khu vực châu Á - Thái Bình Dương được đánh giá là thị trường có tốc độ tăng trưởng nhu cầu LNG lớn nhất. Đối với Việt Nam, nhu cầu LNG được dự báo tăng mạnh trong giai đoạn 2026-2040, gắn với sự phát triển của điện khí LNG và các ngành công nghiệp sử dụng khí.
Theo ông, sự gia tăng nhu cầu LNG trong nước và khu vực mở ra cơ hội cho doanh nghiệp khí Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị LNG quốc tế, thông qua mua bán LNG đa nguồn, quản trị danh mục hợp đồng dài hạn, trung hạn và giao ngay, cũng như hoạt động thương mại, hoán đổi và tối ưu logistics. Việt Nam cũng có khả năng từng bước hình thành vai trò trung tâm nhập khẩu và phân phối LNG trong khu vực ASEAN.
Đồng quan điểm, TS. Phạm Quý Ngọc, Viện Dầu khí (Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam) cho rằng, Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về an ninh năng lượng đặt mục tiêu phát triển thị trường khí đạt quy mô 30-35 tỷ m³ vào năm 2030 vừa là thách thức lớn vừa mở ra cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp khí trong nước.
Nhu cầu khí tại Việt Nam được dự báo tăng mạnh trong những năm tới. LNG được xác định là nguồn cung khí quan trọng, dự kiến chiếm hơn 50% tổng nguồn cung từ sau năm 2030. Điện khí LNG được định hướng phát triển mạnh theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tạo dư địa lớn cho thị trường khí.

TS. Phạm Quý Ngọc, Viện Dầu khí (Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam).
"Bên cạnh yếu tố thị trường, các doanh nghiệp khí trong nước hiện có kinh nghiệm, tiềm lực tài chính và năng lực quản trị, tạo nền tảng để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khí và LNG", vị chuyên gia cho hay.
Về hạ tầng, hệ thống đường ống thu gom và vận chuyển khí tại các khu vực tiêu thụ trọng điểm như Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã phát triển đến mức bão hòa. Trong khi đó, hạ tầng tiếp nhận LNG đang được quan tâm đầu tư, tạo nền tảng cho việc bổ sung nguồn cung khí trong tương lai.
Cách tiếp cận chính sách mới
Bên cạnh những cơ hội mở ra từ quá trình chuyển dịch năng lượng, các chuyên gia nhận định, doanh nghiệp khí Việt Nam hiện đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình tham gia thị trường LNG.
Theo Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam Nguyễn Quốc Thập, khung pháp lý trong nước hiện chưa đồng bộ với đặc thù của thị trường LNG vốn mang tính quốc tế cao. Chuỗi khí - điện LNG - phân phối - hộ tiêu thụ hiện chưa được kết nối đầy đủ và đồng bộ làm giảm hiệu quả vận hành toàn chuỗi giá trị, đồng thời gia tăng rủi ro cho các quyết định đầu tư dài hạn. Quy mô của phần lớn doanh nghiệp khí trong nước còn nhỏ, hạn chế lợi thế trong đàm phán hợp đồng LNG dài hạn, ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn đối tác cũng như khả năng kiểm soát chi phí.
Ngoài các biến động giá LNG trên thị trường quốc tế, các yếu tố địa chính trị cũng đặt ra rủi ro đáng kể cho hoạt động kinh doanh. Trong khi đó, kinh nghiệm về phòng ngừa rủi ro tài chính, quản trị biến động giá của doanh nghiệp khí Việt Nam còn hạn chế. Nguồn nhân lực chuyên sâu về kinh doanh, thương mại LNG chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Toàn cảnh diễn đàn.
Trước thực trạng này, TS. Nguyễn Quốc Thập cho rằng, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý thống nhất cho toàn bộ hoạt động nhập khẩu, mua bán và giao dịch LNG. LNG cần được xác lập là hàng hóa năng lượng mang tính quốc tế, cho phép áp dụng các thông lệ thị trường quốc tế, từ đó từng bước hình thành thị trường LNG cạnh tranh và minh bạch với sự tham gia của nhiều chủ thể.
Cùng với đó, xây dựng cơ chế giá LNG - điện khí đồng bộ theo xu hướng quốc tế, triển khai cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), phát triển hạ tầng LNG gắn với các trung tâm tiêu thụ và kết nối với hệ thống khí hiện hữu.
Dẫn kinh nghiệm từ Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, TS. Nguyễn Quốc Thập nhấn mạnh vai trò then chốt của Nhà nước trong kiến tạo thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp khi tham gia chuỗi LNG mang tính quốc tế thông qua hệ thống chính sách, quy hoạch, cơ chế thuế, phí và giám sát quá trình thực thi. Đồng thời đồng hành cùng doanh nghiệp khí trong giai đoạn đầu tham gia thị trường quốc tế.
Đối với các doanh nghiệp khí Việt Nam, hoạt động kinh doanh LNG mở ra cơ hội lớn để mở rộng, phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh truyền thống; đồng thời khẳng định vai trò trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và tham gia chuỗi LNG khu vực ASEAN và toàn cầu. Tuy nhiên, đi cùng cơ hội là những thách thức rất lớn, đòi hỏi doanh nghiệp phải tham gia tích cực vào quá trình xây dựng cơ chế chính sách và hành lang pháp lý cho toàn chuỗi LNG - điện - hộ tiêu thụ.
"Hoạt động kinh doanh LNG mang tính quốc tế đòi hỏi cách tiếp cận chính sách mới và mang tính đột phá, trong đó cho phép chấp nhận rủi ro ở mức độ có kiểm soát nhằm từng bước xây dựng vị thế và năng lực cạnh tranh dài hạn. Trong bối cảnh đó, nếu được hỗ trợ bởi các khung chính sách phù hợp và tiến bộ, các doanh nghiệp khí Việt Nam có khả năng tham gia với vai trò chủ thể vào chuỗi giá trị LNG ở quy mô khu vực và toàn cầu", Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam khẳng định.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, năm 2030, nguồn điện khí phải đầu tư mới tối đa gần 37.500 MW, trong đó 60% là khí hóa lỏng LNG - tương đương 22.524 MW.







