|
  • :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Những cái Tết khó quên của người dầu khí

Giữa những năm tháng bao cấp thiếu thốn, những chuyến công tác liên miên, thậm chí cận kề sinh tử, người dầu khí vẫn có những cái Tết rất riêng. Từ ký ức của TSKH Trương Minh, kỹ sư Nguyễn Quyết Thắng, mùa xuân hiện lên lặng lẽ mà bền bỉ, như chính con người đã đi qua những năm tháng ấy.

TS Trương Minh chia sẻ về những cái Tết thời bao cấp của ông và đồng nghiệp
TS Trương Minh chia sẻ về những cái Tết thời bao cấp của ông và đồng nghiệp

TSKH Trương Minh sinh ra và lớn lên ở làng Phiếm Ái, xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là Đà Nẵng) - một vùng đất nghèo nhưng giàu truyền thống cách mạng. Năm 1954, khi còn rất trẻ, ông theo đoàn học sinh, cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, mang theo hành trang là ký ức quê nhà và một niềm tin vào tương lai hòa bình cho quê hương, đất nước. Năm 1955, ông được lựa chọn đi du học trong chương trình đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật của Nhà nước, với kỳ vọng hình thành đội ngũ chuyên gia phục vụ cho những ngành kinh tế - kỹ thuật then chốt trong tương lai.

Sau nhiều năm học tập ở Liên Xô, năm 1962, ông trở về nước, công tác tại Đoàn Dầu lửa 36 - đơn vị non trẻ trực thuộc Tổng cục Địa chất, đóng tạm tại Trường Đảng Bắc Ninh rồi chuyển về Chợ Gạo (Hưng Yên). Do đặc thù công việc, những kỹ sư địa chất dầu khí như Trương Minh phải liên tục di chuyển qua các làng quê Đồng bằng Bắc Bộ, đo địa chấn, tìm dấu tích dầu khí. Cuộc sống khi ấy giản dị như người lính: đến đâu ăn đó, tối đâu nghỉ đó. Bữa cơm thường nhật chỉ có chút rau dưa, nhiều khi còn độn bo bo, độn khoai sắn... Ngày thường đã vậy, bữa cơm Tết cũng chỉ là món ăn cây nhà lá vườn, nhưng chan chứa sự sẻ chia của người dân địa phương.

Nếu những năm tháng công tác rong ruổi qua các làng quê Bắc Bộ ghi dấu tuổi trẻ của người dầu khí bằng gian khó và hy sinh, thì tình yêu và gia đình lại là nơi mùa xuân của họ lặng lẽ hiện hữu - ấm áp, bền bỉ và nâng đỡ họ đi qua những ngày tháng nhọc nhằn nhất. TS Trương Minh nhớ lại khi đó ông đang là Bí thư Chi đoàn của đơn vị. Ở một cơ quan bạn, có một cô Bí thư Chi đoàn tên Trâm - dịu dàng, hoạt bát, được nhiều người quý mến. Trớ trêu thay, không chỉ một, mà hai đồng chí trong cơ quan đều dành tình cảm cho cô.

Một đêm diễn văn nghệ giao lưu, khi chương trình kết thúc, hai chàng trai cùng lúc xin được đưa Trâm về. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, cô gái lặng lẽ chọn xe đạp của Trương Minh để lên ngồi. Chỉ vậy thôi, nhưng với những người trẻ thời đó, như thế đã là một lời chọn lựa chắc chắn. Không cần hẹn ước, không cần tỏ tình ồn ào. Chiếc xe đạp lăn bánh trong đêm, mang theo một quyết định đã được thừa nhận bằng im lặng.

Sau đó không lâu, Trương Minh - chàng kỹ sư trẻ gốc Quảng Nam, với giọng nói miền Trung còn đặc, đã đạp xe mấy chục cây số về vùng chuyên trồng cam Hưng Yên để thăm nhà người yêu. Con đường quê mùa xuân khi ấy còn rất vắng vẻ, ông phải hỏi rất nhiều lần mới đến được thôn xã mà người yêu thường nhắc tới. Gặp người dân địa phương, ông nhờ chỉ đường đến nhà cô Trâm nhưng vì giọng Quảng Nam, người làng nghe không ra, chỉ nhầm sang nhà khác. Hỏi đi hỏi lại, ông mới tìm được đúng nơi gia đình người yêu đang cư ngụ. Gia đình Trâm đón tiếp chàng rể tương lai rất nhẹ nhàng, đầm ấm. Nó đã trở thành một kỷ niệm rất đẹp của sự chờ đợi, nhẫn nại và chân thành.

Những năm tháng sau đó, TS Trương Minh bước tiếp con đường học tập, nghiên cứu và cống hiến. Không ít đêm giao thừa, ông và đồng nghiệp đón Tết ngay tại các làng quê xa, bên bếp lửa rơm, trong tiếng cười mộc mạc. “Tết thời đó đơn sơ lắm”, ông từng nhớ lại, “chỉ có chút thịt lợn, con cá kho, vài cái bánh chưng. Nhưng cái bụng no và tình người thì đủ ấm”.

Những lần hiếm hoi được về Hà Nội đón Tết cùng gia đình, ông càng trân quý hơn. Trong căn hộ tập thể nhỏ, tem phiếu chỉ đủ vài lạng thịt, ít gạo nếp, hộp mứt nhỏ. Mâm cơm ít ỏi, nhưng tiếng cười thì đầy, trở thành ký ức sưởi ấm suốt những năm tháng gian khó sau này.

Rồi đến ngày ông nhận quyết định đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh. Cơ hội lớn, nhưng cũng là thử thách khi phải xa gia đình trong thời gian dài. Trước ngày lên đường, vợ ông đã dành dụm từng đồng để mua được một con gà - món ăn xa xỉ thời bấy giờ - nấu một bữa cơm gọi là “tươm” để tiễn chồng. Các con ríu rít bên mâm, háo hức với món thịt hiếm hoi. Cô con gái nhỏ vô tư hỏi: “Chắc phải đợi đến khi ba học xong về, nhà mình mới lại được ăn thịt gà nữa, mẹ nhỉ?”. Câu nói hồn nhiên ấy khiến cả căn phòng lặng đi. Trương Minh gượng cười xoa đầu con, còn người vợ thì quay mặt đi, giấu nước mắt. Tình yêu gia đình, trong khoảnh khắc ấy trở thành nguồn động viên âm thầm giúp ông vững bước nơi đất khách.

Trong ký ức ông, mùa xuân đẹp nhất không chỉ là mùa xuân của đất nước, mà còn là mùa xuân của tuổi trẻ - nơi tình yêu được song hành với lý tưởng, nơi lựa chọn cá nhân hòa vào lựa chọn của một thế hệ.

Cũng như đa phần người dân, cán bộ, công nhân viên ngành dầu khí đã có những cái Tết giản dị, đầm ấm thời đất nước còn gian khó
Cũng như đa phần người dân, cán bộ, công nhân viên ngành dầu khí đã có những cái Tết giản dị, đầm ấm thời đất nước còn gian khó

2. Nếu tình yêu là mùa xuân riêng của mỗi người, thì tình đồng nghiệp lại là mùa xuân chung, nâng đỡ họ trong những năm tháng thiếu thốn nhất. Với kỹ sư Nguyễn Quyết Thắng (nguyên Tổng Giám đốc Liên doanh Dầu khí Lam Sơn - LSJOC), giữa những cái Tết bùn đất, ca kíp và khoan trường ầm ầm tiếng máy, có một cái Tết mà ông nhớ rất lâu. Đó là cái Tết của tình đồng nghiệp, giản dị mà ấm áp đến lạ. Có nghe kỹ sư Nguyễn Quyết Thắng kể lại, mới hiểu rằng những cái Tết hạnh phúc sau này của ông không đến từ sự đủ đầy, mà từ việc đã từng đi rất gần cái chết.

Những năm công tác ở Tiền Hải (Thái Bình, nay là Hưng Yên), thỉnh thoảng được nghỉ bù, ông lại đạp xe về quê. Quãng đường gần 150km, với người trẻ khi ấy không phải vấn đề, miễn là chiếc xe không thủng lốp dọc đường. Ông quen đi lối Triều Dương, qua thị xã Hưng Yên, Bô Thời, rẽ đò Vườn Chuối sang Thường Tín, rồi đạp thẳng về Hoài Đức. Con đường ấy lặp đi lặp lại nhiều đến mức in hằn trong trí nhớ. Nhưng có một chuyến về nhà, chỉ cần lệch một khúc rẽ, số phận đã rẽ sang hướng khác… Hôm đó, một ngày cuối năm 1972, như một sự xui khiến khó giải thích, ông lại rẽ sang đường An Khánh. Khi những chiếc máy bay B52 gầm rú nhào qua đầu trút bom xuống làng Yên Bệ, phản xạ duy nhất của ông là quẳng xe, lao xuống con mương ven đường. Bom nổ ầm ầm phía trước, chỉ cách chỗ ông nằm vài cây số. Hơn 60 người thiệt mạng, nhà cửa và cây cối tan hoang. Chỉ cần chậm một nhịp, hoặc đứng lại thêm vài giây, có lẽ cuộc sống của ông đã kết thúc. Có thể vì thế mà sau này, khi rủ đồng nghiệp xa nhà về nhà mình ăn Tết cùng với gia đình, ông coi đó là một điều rất tự nhiên. Bởi đơn giản, ông không muốn ai phải một mình trong những ngày cuối năm.

Năm ấy, công việc dồn dập, nhiều anh em không có điều kiện về quê ăn Tết. Nguyễn Quyết Thắng rủ một người bạn cùng đơn vị về nhà mình. Một lời rủ tự nhiên, như người ta chia sẻ một chút ấm áp cuối năm: “Về nhà tôi gói bánh chưng, cho có không khí Tết”. Nhà nghèo, thời bao cấp, cái gì cũng thiếu. Nhưng bố mẹ ông vẫn cố xoay xở để có đủ gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, thêm bó lá dong xanh mướt. Không dư dả, không nhiều nhặn, nhưng đủ để gói những chiếc bánh chưng vuông vức, đủ để giữ lại hương vị Tết cho con và cho người bạn xa nhà.

Người bạn ấy gói bánh rất giỏi. Tay thoăn thoắt, lá xếp thẳng, bánh vuông thành sắc cạnh, nhìn đã thấy Tết. Còn Thắng thì loay hoay phụ giúp: rửa lá, vo gạo, đãi đậu, nhóm bếp. Gian bếp nhỏ ấm lên dần, không chỉ bởi lửa mà bởi tiếng cười, bởi cảm giác có người cùng chia sẻ. Nồi bánh chưng đỏ lửa suốt đêm. Hai chàng kỹ sư trẻ ngồi canh bánh, nói chuyện khoan trường, chuyện ca đêm, chuyện những lần khuân mẫu nặng trĩu, chuyện Tết xa nhà... Ngoài kia là cái rét cắt da, trong bếp là mùi nếp chín, mùi lá dong, mùi khói quyện vào nhau, thứ mà về sau mỗi lần nhớ về lòng người lại bâng khuâng, xao xuyến.

Sáng hôm sau, bánh chín. Cắt chiếc bánh đầu tiên, miếng bánh xanh, dẻo, đậu bùi, thịt béo vừa phải. Không cao lương mỹ vị, nhưng ăn thấy ấm lòng. Với họ, đó là một cái Tết đủ đầy, đủ bởi có gia đình, có bạn bè, có tình đồng nghiệp trong gian khó. Nhiều năm sau, khi đã đi qua bao khoan trường, bao mùa Tết khác, kỹ sư Nguyễn Quyết Thắng vẫn nhớ cái Tết ấy...

3. Những cái Tết đã đi qua trong ký ức của TS Trương Minh, của kỹ sư Nguyễn Quyết Thắng và nhiều cán bộ, công nhân viên khác cho thấy một điều bền vững: mùa xuân của người làm dầu khí nói riêng và năng lượng nói chung đều được nuôi dưỡng từ tình người và trách nhiệm với đất nước. Đó có thể là lựa chọn lên chiếc xe đạp trong đêm, là bữa cơm tiễn chồng đi xa, là nồi bánh chưng đỏ lửa để không ai phải đón Tết một mình. Những điều tưởng nhỏ bé ấy đã làm nên nền tảng tinh thần cho cả một thế hệ.

Chính từ những cái Tết rất giản dị nhưng ấm áp của một thời bao cấp, tinh thần bền bỉ, sẻ chia và dấn thân đã được truyền lại cho các thế hệ sau. Đó là hành trang để những cán bộ, công nhân viên Petrovietnam hôm nay và mai sau tiếp tục bước tiếp con đường gian khổ mà đầy hứng khởi - không chỉ tìm kiếm tài nguyên, mà kiến tạo một hệ sinh thái năng lượng hiện đại, an toàn và vì lợi ích quốc gia.

Và trong dòng chảy ấy, những cái Tết khó quên của người dầu khí năm xưa sẽ luôn là một phần ký ức nhắc cho chúng ta nhớ rằng, mọi thành tựu của công nghiệp năng lượng đều bắt đầu từ con người, từ niềm tin và từ những mùa xuân giản dị, nồng ấm.

Mùa xuân đẹp nhất không chỉ là mùa xuân của đất nước, mà còn là mùa xuân của tuổi trẻ - nơi tình yêu được song hành với lý tưởng, nơi lựa chọn cá nhân hòa vào lựa chọn của một thế hệ.

Đoàn Minh Khang


Tác giả: Đoàn Minh Khang
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết