|
  • :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Công nghệ hiện đại, tiên tiến 'phủ sóng' ngành dầu khí Việt Nam

Trong lĩnh vực thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí, Việt Nam đã làm chủ và ứng dụng các công nghệ hiện đại, tiên tiến, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cao vào thực tiễn.

Khẳng định khả năng làm chủ công nghệ

Theo Bộ Công Thương, với đặc thù hoạt động trong lĩnh vực mang tính quốc tế cao, hầu hết các công nghệ sử dụng trong lĩnh vực khai thác và chế biến dầu khí của Việt Nam đều là những công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới.

Ngành dầu khí đã đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ

Ngành dầu khí đã đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ

Chẳng hạn như: Công nghệ khoan đơn thân, khoan đa thân, khoan nhiệt độ - áp suất cao, khoan thân giếng nhỏ, khoan dưới áp suất cân bằng, công nghệ xử lý giếng, phương pháp gọi dòng, phương pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu đã được áp dụng trong khai thác thứ cấp ở các mỏ như: Bạch Hổ, Rạng Đông, Sư Tử Đen; công nghệ khai thác dầu trong đá móng granitoid trước Đệ Tam đã được áp dụng tại các mỏ thuộc bể Cửu Long...

Trong chế biến dầu khí, công nghệ làm lạnh sâu dòng khí nguyên liệu (Turbo Expender) đã giúp nâng cao hiệu suất thu hồi lỏng tại nhà máy xử lý khí; công nghệ nén khí CNG được áp dụng trong việc nén khí khô vào các bình chứa cao áp; công nghệ nhập, xuất và tồn chứa LPG lạnh...

Cùng với các đơn vị nghiên cứu, tư vấn có năng lực trong nước, doanh nghiệp dầu khí Việt Nam đã nghiên cứu, chế tạo và triển khai thành công nhiều công trình khoa học và công nghệ mang lại hiệu quả kinh tế và ý nghĩa mang tầm khu vực và thế giới.

Tiêu biểu, cụm công trình “Nghiên cứu phát triển công nghệ thiết kế, thi công, lắp đặt các công trình dầu khí biển siêu trường, siêu trọng phù hợp với điều kiện Việt Nam” đã giải quyết những vấn đề hoàn toàn mới ở Việt Nam với những điều kiện hiếm gặp trên thế giới, đóng góp trực tiếp tới sự thành công của dự án Biển Đông 01.

Từ những kết quả của dự án đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và làm chủ công nghệ của ngành dầu khí Việt Nam, đặc biệt là trong việc thiết kế, thi công chế tạo, hạ thủy và lắp đặt các công trình dầu khí siêu trường, siêu trọng ở những vùng địa chính trị nhạy cảm là nơi có độ sâu nước lớn, góp phần tích cực bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia.

Hay, cụm công trình “Nghiên cứu, phát triển công nghệ để khai thác các mỏ khí - condensate với điều kiện đặc biệt phức tạp thềm lục địa Việt Nam” được đánh giá có giá trị khoa học và công nghệ cao, không chỉ áp dụng cho Dự án Biển Đông 01 mà còn có đóng góp quan trọng cho việc phát triển các dự án khai thác nước sâu xa bờ khác.

Qua dự án này, khẳng định sức mạnh nội lực, kỹ năng quản lý, trình độ của ngành dầu khí Việt Nam hoàn toàn đủ sức làm chủ, phát triển được những công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất trên thế giới, chinh phục được những mỏ dầu khí có điều kiện phức tạp nhất.

Một ví dụ khác có thể kể đến là cụm công trình “Hệ thống trạm đo carota tổng hợp xách tay TBM-02 và bộ quy trình minh giải tài liệu địa vật lý Loginter 2.0” đã làm chủ được quá trình tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí thông qua việc nghiên cứu tính chất vật lý, địa chất, đất đá xung quanh thành giếng kết hợp với kết quả nghiên cứu địa chất để tính toán trữ lượng dầu khí của các khu vực, các mỏ, bể trầm tích, đánh dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của ngành địa vật lý của Việt Nam.

Đột phá quan trọng hàng đầu

Tại Quyết định số 2795/QĐ-BCT của Bộ Công Thương ban hành chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển ngành Công Thương đến năm 2030 nêu rõ định hướng, nghiên cứu phát triển, nâng cấp công nghệ sản xuất, chế biến dầu khí với hiệu suất cao; cải tiến, tối ưu hóa, đa dạng hóa sản phẩm phục vụ phát triển bền vững, bảo vệ tài nguyên, môi trường và nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành dầu khí, tạo ra sản phẩm quốc gia của ngành.

Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã ban hành Chiến lược Khoa học - công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số đến năm 2030, định hướng đến năm 2050, xác lập định hướng đột phá nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đưa khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng bền vững của Tập đoàn.

Chiến lược xác định rõ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính thúc đẩy tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh toàn Tập đoàn.

Mục tiêu tổng quát đặt ra là đến năm 2030, tiềm lực công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo của Petrovietnam đạt mức tiên tiến của khu vực ở nhiều lĩnh vực trọng điểm; một số lĩnh vực đạt trình độ quốc tế. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần đưa Tập đoàn tăng trưởng bền vững với tốc độ hai con số, hướng tới lọt Top 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới.

Chiến lược cũng xác định tầm nhìn đến năm 2050, toàn bộ hoạt động của Tập đoàn sẽ được vận hành trên nền tảng số; các chương trình nghiên cứu, đổi mới sáng tạo đạt chuẩn quốc tế và Petrovietnam làm chủ công nghệ ở các lĩnh vực then chốt, vận hành các mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch và chuỗi giá trị dữ liệu.

Tại các đơn vị thành viên, hệ thống đầu mối ứng dụng công nghệ sẽ được thiết lập nhằm đưa các công nghệ mới, sáng kiến vào thực tiễn sản xuất, thử nghiệm, đánh giá và nhân rộng. Đồng thời, chịu trách nhiệm quản trị tài sản trí tuệ, thúc đẩy quá trình thương mại hóa các sản phẩm công nghệ mang thương hiệu Petrovietnam, tạo thêm nguồn giá trị gia tăng cho Tập đoàn.

Đặc biệt, phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ người lao động trong Tập đoàn gắn với nhanh chóng tiếp thu, làm chủ và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới, đặc biệt là chủ động tiếp cận và khai thác triệt để các công nghệ thông minh, trí tuệ nhân tạo; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, chú trọng nghiên cứu cơ bản, tiến tới làm chủ và cạnh tranh về công nghệ ở một số lĩnh vực Tập đoàn có nhu cầu, tiềm năng, lợi thế, phục vụ phát triển năng lực cạnh tranh của Tập đoàn cho các sản phẩm hàng hóa/dịch vụ chủ lực.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, TS. Nguyễn Văn Tư, Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), đơn vị nghiên cứu khoa học và công nghệ của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) cho biết, ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57/NQ-TW, Đảng ủy Tập đoàn đã ban hành Nghị quyết số 951-NQ/ĐU ngày 3/1/2025 về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo động lực mới, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh để Tập đoàn bứt phá, tăng trưởng với tốc độ hai con số.

Đồng thời, ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 951; xây dựng Chiến lược khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo đến năm 2030 và định hướng đến năm 2050; chỉ đạo rà soát hoàn thiện quy chế quản lý khoa học công nghệ để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trên tinh thần của Nghị quyết số 57/NQ-TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 193/2025/QH15 của Quốc hội.

"Petrovietnam định hướng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mở liên kết chặt chẽ với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của quốc gia và thế giới; sắp xếp lại hệ thống khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo theo hướng tăng cường liên kết theo chuỗi các hoạt động đổi mới sáng tạo từ nghiên cứu phát triển - ứng dụng - thương mại hóa, đẩy mạnh mô hình hợp tác mẫu giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp" - ông Nguyễn Văn Tư nhấn mạnh.

Chiến lược Khoa học - công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 của Petrovietnam đặt mục tiêu hoàn thiện nền tảng dữ liệu thống nhất toàn Tập đoàn; phát triển hạ tầng số và cơ sở dữ liệu lớn trong tất cả các lĩnh vực từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến công nghiệp khí, hóa dầu, điện và năng lượng tái tạo. Việc đầu tư cho công nghệ số và an ninh mạng được yêu cầu triển khai đồng bộ, hiện đại và liên tục nâng cấp, cập nhật.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết