Bản tin năng lượng số 28/2026
Phát triển hydrogen mở ra cơ hội hình thành chuỗi giá trị công nghiệp mới, thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo động lực tăng trưởng kinh tế xanh.
Năng lượng hydrogen và tương lai công nghiệp không phát thải
Ngày 29/7, tại Hà Nội, Hiệp hội Năng lượng Sạch Việt Nam (VCEA), Tạp chí Năng lượng Sạch Việt Nam đã chủ trì tổ chức Diễn đàn Năng lượng Hydrogen và tương lai công nghiệp không phát thải.
Phát biểu khai mạc diễn đàn, TS. Mai Duy Thiện, Chủ tịch VCEA, Tổng biên tập Tạp chí Năng lượng Sạch Việt Nam cho biết, Quyết định 165/QĐ-TTg ngày 7/2/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định mục tiêu phát triển hệ sinh thái hydrogen đồng bộ từ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, phân phối đến sử dụng; từng bước đưa Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực tham gia chuỗi giá trị hydrogen trong khu vực và trên thế giới. Đây không chỉ là định hướng phát triển ngành năng lượng mà còn là nền tảng quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghiệp theo hướng xanh, sạch, hiện đại và phát triển bền vững.

Quang cảnh diễn đàn
TS. Mai Duy Thiện nhấn mạnh, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội rất lớn để phát triển ngành công nghiệp hydrogen nhờ tiềm năng dồi dào về năng lượng tái tạo như: thủy điện, điện gió ngoài khơi và điện mặt trời... Đồng thời, với vị trí địa lý thuận lợi cùng quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, nước ta có điều kiện để thu hút đầu tư từ các nước tiên tiến, tiếp nhận công nghệ hiện đại, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và từng bước tham gia thị trường hydrogen toàn cầu.
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, chúng ta cũng đang đối mặt với nhiều thách thức như chi phí sản xuất còn cao, nguồn lực tài chính để đầu tư lớn, hạ tầng lưu trữ và vận chuyển còn hạn chế, nguồn nhân lực chất lượng cao chuyên ngành còn thiếu, cũng như yêu cầu hoàn thiện khung chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ chế tài chính phù hợp. Chính vì vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, các viện nghiên cứu, trường đại học và các đối tác quốc tế... sẽ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phát triển ngành hydrogen tại Việt Nam.
Tại diễn đàn, các đại biểu tập trung trao đổi những nội dung trọng tâm như: xu hướng phát triển hydrogen trên thế giới; chính sách và định hướng phát triển hydrogen tại Việt Nam; công nghệ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển và sử dụng hydrogen; phát triển chuỗi giá trị hydrogen; cơ hội đầu tư, hợp tác quốc tế và các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi sang nền công nghiệp không phát thải.
Thông qua các phiên tham luận và tọa đàm, diễn đàn kỳ vọng sẽ góp phần thúc đẩy hình thành hệ sinh thái hydrogen đồng bộ, tạo nền tảng cho quá trình chuyển dịch năng lượng, phát triển nền công nghiệp không phát thải và hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam vào năm 2050.
Đẩy mạnh thực hiện Tuyên bố JETP, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng 0
Bộ Công Thương vừa có Quyết định số 1929/QĐ-BCT ngày 29/7/2026 ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 458/QĐ-TTg ngày 20/3/2026 phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác về chuyển đổi năng lượng công bằng (Đề án JETP).
Mục tiêu của Kế hoạch nhằm triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp ngành công thương được giao tại Quyết định số 458/QĐ-TTg ngày 20/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố JETP, bao gồm huy động nguồn lực tài chính và chuyển giao công nghệ từ các đối tác quốc tế để thực hiện thành công các dự án JETP theo cam kết tại Tuyên bố JETP và phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của ngành công thương và lợi ích quốc gia, dân tộc.

Bộ Công Thương ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 458/QĐ-TTg ngày 20/3/2026 phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố JETP
Theo Kế hoạch, giai đoạn đến năm 2030 xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, khung pháp lý đồng bộ theo chức năng nhiệm vụ ngành công thương góp phần tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư vào các dự án phát triển năng lượng tái tạo, hệ thống lưu trữ năng lượng để triển khai các dự án phù hợp Tuyên bố JETP.
Cập nhật và tổ chức thực hiện Kế hoạch huy động nguồn lực triển khai Tuyên bố JETP (kế hoạch huy động nguồn lực) và một số dự án JETP với sự hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ của quốc tế.
Phối hợp và huy động nguồn lực từ các đối tác quốc tế hỗ trợ triển khai các dự án JETP liên quan đến nâng cấp, xây dựng hạ tầng sản xuất, truyền tải, tích trữ, phân phối, điều hành hệ thống điện thông minh, tiên tiến, hiện đại, có khả năng tích hợp quy mô lớn các nguồn năng lượng tái tạo; tăng cường điện khí hóa, phát triển nguồn nhân lực; từng bước làm chủ công nghệ hiện đại, tiến tới sản xuất được các thiết bị phục vụ phát triển lĩnh vực năng lượng tái tạo; nâng cao năng lực quản trị ngành năng lượng đạt trình độ tiên tiến.
Đồng thời, phối hợp và huy động nguồn lực từ các đối tác quốc tế hỗ trợ triển khai các dự án JETP về phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo, thúc đẩy công nghiệp chế tạo thiết bị năng lượng tái tạo, thiết bị lưu trữ điện năng; thúc đẩy sản xuất, sử dụng, tồn trữ, vận chuyển và phân phối hydrogen xanh, amoniac xanh... Phấn đấu đến 2030 hình thành 2 trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo tại các khu vực có nhiều tiềm năng.
Thực hiện chuyển đổi năng lượng công bằng gắn với tạo việc làm mới, đào tạo và đào tạo lại lao động, bảo đảm an sinh xã hội cho các nhóm dễ bị tổn thương; khuyến khích người dân, doanh nghiệp tham gia vào các chương trình sử dụng năng lượng sạch, tiết kiệm và hiệu quả.
Chủ động phát triển mạnh mẽ năng lượng tái tạo, phấn đấu nâng tỷ lệ nguồn năng lượng tái tạo đạt khoảng 47% tổng công suất điện, tổng công suất nhiệt điện than không vượt quá từ 30,2 GW đến 31,055 GW; kiểm soát phát thải khí nhà kính từ ngành điện không quá 170 triệu tấn CO2 tương đương, phù hợp với mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và được thực hiện linh hoạt trên cơ sở có sự hỗ trợ thực chất, hiệu quả của các đối tác quốc tế trong khuôn khổ JETP.
Giai đoạn sau năm 2030 tiếp tục đề xuất, xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách theo chức năng nhiệm vụ ngành công thương để hỗ trợ chuyển đổi năng lượng, các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, năng lượng sạch trở thành thường xuyên, liên tục của các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng và toàn dân với sự dẫn dắt của Nhà nước và hỗ trợ của quốc tế…
Phê duyệt khung giá phát điện nhiệt điện khí năm 2026
Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1882/QĐ-BCT ngày 23/7/2026 về việc phê duyệt khung giá phát điện áp dụng cho loại hình nhà máy nhiệt điện tuabin khí chu trình hỗn hợp sử dụng khí thiên nhiên năm 2026.

Ảnh minh họa
Theo Quyết định, khung giá phát điện năm 2026 áp dụng cho nhà máy nhiệt điện tuabin khí chu trình hỗn hợp sử dụng khí thiên nhiên (quy định tại điểm a khoản 2 điều 1 Thông tư số 09/2025/TT-BCT) dao động từ 0 đến 3.410,64 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng). Trong đó, mức giá tối đa (trần khung giá) được phê duyệt là 3.410,64 đồng/kWh.
Bộ Công Thương cũng công bố chi tiết các thông số cơ sở được sử dụng để tính toán mức giá tối đa của khung giá phát điện này. Cụ thể, công suất tinh của nhà máy điện chuẩn làm căn cứ tính toán là 1.008.104 kW; suất tiêu hao nhiệt tinh ở mức tải 85% là 6.542,96 BTU/kWh. Về thông số nhiên liệu, giá nhiên liệu chính (khí thiên nhiên) được tính ở mức 11,98 USD/triệu BTU; cước phí vận chuyển nhiên liệu chính đến nhà máy là 1,87 USD/triệu BTU. Tỷ giá quy đổi được áp dụng trong phương án tính toán là 26.378 đồng/USD.
Về tổ chức thực hiện, Bộ Công Thương giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các đơn vị phát điện căn cứ vào khung giá phát điện đã được phê duyệt để tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán điện. Quá trình thỏa thuận, ký kết phải tuân thủ nghiêm các quy định về phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện do Bộ Công Thương ban hành.
Quyết định số 1882/QĐ-BCT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Ngân Hà



